TỔ ĐÌNH TAM BỬU TỰ Ba Chúc - An giang
♠♠๑۩۞۩๑ -KỲ HƯƠNG TỰ- ๑۩۞۩๑♠♠
Trang này được thực hiện bởi các đồng đạo TỨ ÂN HIẾU NGHĨA - TIỀN GIANG

13 tháng 5, 2013

"Ly kỳ chuyện dị nhân ‘Ông Cao Nhà Bàng’ cao lớn hơn 2 mét"

0 nhận xét

"Ông Cao Nhà Bàng" là biệt danh mà người dân ở khu vực núi Trà Sư (Nhà Bàng, Tịnh Biên, An Giang) đặt cho ông Lê Văn Thùy, người đột nhiên có thân hình to lớn.

(Ảnh 1: Vợ chồng bà Diêm bên ngôi mộ ông Cao Nhà Bàng.)

***Ăn cá trê núi Trà Sư rồi đột nhiên cao lớn hơn 2 mét***

Theo truyền khẩu, ông Cao Nhà Bàng, có tục danh là Lê Văn Thùy, sinh vào khoảng 1849, là con thứ 5 trong gia đình khả giả ở Trung Lương (Tiền Giang) nên thưở nhỏ có học chữ Nho. Lớn lên ông lập gia thất theo sắp đặt của song thân. Người vợ đẹp người đẹp nết đã mang lại cho ông niềm hãnh diện khi sinh liên tiếp 2 người con trai khôi ngô tuấn tú. Cuộc sống đang yên lành, bỗng đột ngột trở chiều khi vợ, con và nhiều người thân trong gia đình cùng lúc qua đời vì dịch bệnh. Buồn, rầu... ông bỏ xứ lên miệt Thất Sơn để tầm sư học đạo. Khi đến khu vực núi Trà Sư (nay thuộc thị trấn Nhà Bàng, Tịnh Biên) thấy cảnh vật nơi đây phù hợp với mình, ông quyết định dừng chân. Qua tâm tình, ông được ông Lê Văn Sóc, một người từng theo học chữ Nho ở xã Nhơn Hưng, (nay là khóm Hòa Thuận, Nhà Bàng) mời về nhà tá túc, tiếp đãi như bằng hữu. Bà Thị Diêm năm nay 73 tuổi, là cháu nội của ông Sóc cho biết: "Theo lời kể của cha tôi, khi mới đến, ông Thùy có tướng tá cũng bình thường như bao người dân Việt Nam. Tuy nhiên sau lần ông vãn cảnh núi Trà Sư mắc trận mưa rất lớn, sau đó ăn canh bầu nấu với con cá trê vàng do chính tay ông bắt được dưới con suối trên núi thì đột nhiên ông ngã bệnh nặng rồi cơ thể to lớn khác thường". Theo lời bà Diêm, "do thân hình ngày một lớn nhanh nên không giường chõng nào có thể kham được thân hình quá khổ của ông nên nội bà đã thuê thợ hạ cây bình linh cổ thụ trong vườn nhà, rồi chọn lóng cây dài 2,8 mét để làm bộ ván ngựa cho ông ngủ". Tuy nhiên sau đó, cơ thể ông lại dài và cao ra thêm, ông nội bà Diêm phải đóng thêm giường bằng tre nối vào khi đó mới đủ cho ông Thùy nằm thẳng chân. Ông Phan Ngọc Anh (79 tuổi) chồng bà Diêm xác nhận: Khi cưới vợ về đây, tôi vẫn còn thấy bộ ván ngựa khổng lồ này. Hiện vẫn còn trong nhà, nhưng do thấy quá bất tiện nên hơn chục năm trước tôi đã cưa bỏ bớt chiều dài, hiện chỉ còn 2,2 mét.

(Ảnh2: Ông Phan Ngọc Anh xác nhận việc đã cắt bỏ chiều dài của bộ ván ngựa mà ngày xưa ông nội vợ ông đã đóng riêng cho ông Cao Nhà Bàng.)

Thấy câu chuyện có vẻ mang âm hưởng huyền thoại, chúng tôi liên lạc với nhiều người am hiểu văn hóa bản địa của vùng biên thùy An Giang để kiểm chứng. Đầu tiên là lão nhà văn Liêm Châu, người có nhiều công trình và kiến thức sâu rộng về vùng Thất Sơn An Giang. Qua trò chuyện, lão nhà văn xác nhận, cách đây hơn nửa thế kỷ, trong những lần đi diền dã, tôi cũng nghe người xưa lưu truyền như vậy. Thậm chí có người còn nói rất rõ thế này: ông Thùy cao đến 2,27m, tay chân dài lêu nghêu như cành tre chìa ra thân cây. Tương truyền, trong lần ra Châu Đốc, một đêm đang đi dạo, ông thèm hút thuốc mà quên mang theo bật lửa, mà xung quanh không có ai. Nhìn quanh một hồi, ông bèn bước đến dùng tay mở cửa chiếc đèn đường đề mồi mà không cần nhón chân, trong khi phu công lộ phải bắc thang leo lên. Theo lão nhà văn Liêm Châu, đèn đường thời đó cao khoảng 3m, trên ngọn đốt chiếc đèn dầu được che bởi 4 tấm kiếng màu xanh-đỏ-trắng và vàng. Nhà văn Liêm Châu còn cho biết thêm: Năm 1904, ông Thùy đạt giải quán quân tại cuộc đấu xảo "Người khổng lồ" do chủ tỉnh Châu Đốc lúc bấy giờ là Doceuil tổ chức. Vì vậy sao đó người ta đặt cho ông biệt danh "Ông Cao Nhà Bàng". Do ông thứ 5 nên để thân mật, người ta gọi tắt là: Ông Năm Cao. Thậm chí, cái tên này còn đi vào lòng người như thành ngữ nói về sự cao lớn khác thường của sự vật, hiện tượng: Cao như Ông Cao Nhà Bàng.

Theo lời bà Diêm, trước đây gia đình bà có giữ hai di ảnh của ông Năm Cao: một bức chụp lúc ông cao lớn, vạm vỡ; một chụp lúc ông bị bại liệt, thân mình gầy ốm. Tuy nhiên sau đó đã thất lạc trong chiến tranh biên giới Tây Nam. Hiện chỉ còn ảnh gương mặt ông trên mộ.

***Những bí mật chưa thể giải mã***

Được sự hướng dẫn tận tình của Phó chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật huyện Tịnh Biên, chúng tôi lên đường viếng ngôi mộ ông Cao Nhà Bàng vào sáng cuối tuần đầu tháng 5. Ngôi mộ nằm giữa đồng cát đặc trưng của vùng Thất Sơn, nhưng quanh năm mát rười rượi bởi tàn lá cây thốt nốt đan kín bên trên. Dù đã qua nhiều lần tu sửa, nhưng theo lời bà Diêm, ngôi mộ vẫn giữ được sự to lớn khác thường nguyên thủy. Theo ước tính của chúng tôi, chỉ riêng ngôi mộ đã dài trên 3m. Dường như đoán được thắc mắc của chúng tôi, bà Diêm giải thích ngay: Thì phải làm dài cho đúng kích thước chiếc hòm bên dưới. Theo bà Diêm, ông Cao mất vào khoảng năm 1925, tính đến nay đã 88 năm. Gần một thế kỷ đi qua, nhưng có lẽ do ảnh hưởng của lớp màn huyền bí nên mãi đến nay xung quanh dị nhânnày vẫn còn quá nhiều điều bí ẩn. Đầu tiên là chuyện liên quan đến nguyên nhân khiến ông trở nên to lớn dị thường. Có người thì cho là do ông bị trúng trận mưa linh thiêng trong lúc vãn cảnh núi Trà Sư. Có người thì quả quyết là do ông ăn phải con cá trê linh thiêng. Theo thuyết này, khi nấu canh, con cá trê vàng do ông bắt được dưới suối núi Trà Sư, rã ra thành nước vàng lườm như nghệ… Riêng với cơ chế cơ thể cao lớn cũng có nhiều cách lý giải. Có người thì cho là sau trận bệnh nhức đầu nóng lạnh, các bộ phận trên cơ thể ông đồng loạt dài ra. Nhưng cũng có người lại cho rằng, quá trình đó diễn ra từng phần riêng lẻ. Điển hình là ông Bùi Văn Lê, (73 tuổi -Trưởng gánh của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Ba Chúc, Tri Tôn, An Giang). "Ba tôi sinh năm 1908, sinh thời có kể về chuyện về ông Cao Nhà Bàng thế này: Sau khi lâm trọng bệnh, mỗi khi ông thấy bộ phận nào trong cơ thể bị đau nhức, thì sau đó bộ phận đó dài ra", ông Lê tự tin. Thậm chí sau khi ông bị đột biến về cơ thể, cũng tồn tại nhiều tin đồn trái ngược nhau. Có người thì cho biết, ông vẫn sinh hoạt bình thường, nhưng có người thì lại quả quyết rằng: ông có thêm nhiều biệt tài. Theo lão nhà văn Liêm Châu, không chỉ biết dùng cây cỏ trên núi trị bệnh cho người dân, ông Cao Nhà Bàng còn có thêm tài đoán việc kiết-hung rất đại tài nên có rất nhiều người tìm đến. "Thật khó để phân định thực-hư, nhưng có một sự thật là sau khi ông mất, mộ của ông thường xuyên nghi ngút nhang khói của những người hiếm muộn đến cầu con, những người bệnh, tai ách đến cầu tai qua nạn khỏi...", ông Phan Ngọc Anh xác nhận.

(Ảnh 3: Di ảnh ông Cao Nhà Bàng.)

Riêng thông tin xung quanh cái chết của ông càng đa dạng. Có người thì cho rằng do thấy ông hay giao du với các nhà sư yêu nước nên chính quyền Pháp lo ngại ông tạo phản. Nhưng cũng có người cho rằng, do ông có tài hốt thuốc trị bệnh, sợ ông tập hợp người làm đại sự. Tuy nhiên cả hai thuyết này đều giống nhau ở chỗ xác định chính người Ph áp đã tiêm thuốc làm ông bại liệt rồi chết lần, chết mòn.

Thậm chí về chuyện bài vị của ông cũng đang đòi hỏi các nhà nguyên cứu sớm làm rõ. Theo học giả Nguyễn Văn Hầu, tác giả của quyền "Nửa tháng trong vùng Thất Sơn" và lão nhà văn Liêm Châu: Hiện bài vị của ông với đạo hiệu Quản vĩnh Đạo Cao quang Như Lai đang được thờ tại Bửu Minh Đường (Ba Chúc-Tri Tôn). Đây thực chất là nơi thờ tự theo đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Với mong muốn góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ giữa dị nhân với đạo Phật nội sinh này, chúng tôi lại bắt xe vào Ba Chúc. Tuy nhiên, trao đổi với chúng tôi, ông Bùi Văn Lê, Trưởng gánh của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa tại Ba Chúc, cho biết: Theo hiểu biết của tôi, bài vị này trùng khớp với câu niệm trong "Hiếu Nghĩa kinh thượng quyện" do Đức Bổn sư Ngô Lợi (1830-1890) viết vào khoảng năm 1878". Với tất cả sự thận trọng, chúng tôi tìm đến Bửu Minh Đường tọa lạc dưới chân núi Tượng, một trong 7 ngọn núi trong Thất Sơn, để "mục sở thị". Sau một buổi tìm kiếm với sự hướng dẫn và trợ giúp của ông Lê Văn Tiếu, đại diện Bửu Minh Đường, chúng tôi hoàn toàn không phát hiện bài vị nào có đạo hiệu như trên dưới cả hai loại chữ Hán và Việt.

Tuy nhiên trước lúc chia tay, ông Lê cũng đề xuất: Nhà báo nên công bố thông tin này để các nhà nghiên cứu tìm hiểu, cung cấp thêm tư liệu để góp phần giải mã "bí mật" này.
(Theo báo xã luận).

11 tháng 5, 2013

Tấm bia trấn yểm ở vùng Thất Sơn

0 nhận xét

Hiện tại, nơi hậu liêu chùa Bồng Lai nằm sát mép kênh Vĩnh Tế, xã Vĩnh Tế thuộc thị xã Châu Đốc, An Giang có một ngôi miếu nhỏ, bên trong là một tấm bia đá cổ. Giữa mặt bia không có chữ nhưng nơi viền mép phải có chạm dòng chữ Hán "Hoàng Thanh, Càn Long ngũ thất niên, trọng thu, cốc đán", có nghĩa là "Đời nhà Thanh, Vua Càn Long năm thứ 57, vào tháng 8, mùa thu". Tương truyền tấm bia đó là một đạo "bùa Cao Biền" trấn yểm long mạch vùng Cửu Long của người Tàu để người Việt đời đời phụ thuộc.

Chùa Bồng Lai nằm sát mép kênh Vĩnh Tế, xã Vĩnh Tế thuộc thị xã Châu Đốc, An Giang còn có tên gọi khác là chùa Bài Bài, Bà Bài hoặc chùa Ông Đạo Lập. Ngôi chùa cổ ven biên giới này được ghi nhận là di tích lịch sử cách mạng thời kỳ chống Mỹ của tỉnh An Giang. Đây là một trong những địa chỉ giao liên đầu mối quan trọng của Thị ủy Châu Đốc và là nơi ẩn quân của các đơn vị bộ đội chủ lực trước năm 1975.

Không chỉ là di tích lịch sử cách mạng mà chùa Bồng Lai còn ẩn chứa nhiều di tích tâm linh kỳ thú. Hiện tại, nơi hậu liêu chùa có một ngôi miếu nhỏ, bên trong là một tấm bia đá cổ. Giữa mặt bia không có chữ nhưng nơi viền mép phải có chạm dòng chữ Hán "Hoàng Thanh, Càn Long ngũ thất niên, trọng thu, cốc đán", có nghĩa là "Đời nhà Thanh, Vua Càn Long năm thứ 57, vào tháng 8, mùa thu".

Tương truyền tấm bia đó là một đạo "bùa Cao Biền" trấn yểm long mạch vùng Cửu Long của người Tàu để người Việt đời đời phụ thuộc.

Huyền tích giải ếm phù bia

Tấm bia bằng đá sa thạch, cao khoảng 90 cm, ngang khoảng 40 cm. Giữa mặt bia có vẻ như đã từng có chữ nhưng bị đục xóa trắng. Cô Út Diệu An - người giúp việc công quả thờ phụng trong chùa Bồng Lai từ nhiều năm nay khẳng định: "Cái bia ếm này có từ khi chùa mới lập cách nay hàng thế kỷ. Hàng ngày chúng tôi vẫn phải cắm nhang cúng bái để giữ trấn. Nguyên thủy tấm bia trấn phù này có chữ bùa nhưng đã bị sư Cố đục bỏ để giải ếm".

Sư Cố mà cô Út nhắc đến là sư Lập - người tạo dựng ngôi chùa. Cô Út còn cho biết thêm, tấm bia trấn phù này là một đạo bùa "Cao Biền".

Rất nhiều tài liệu khảo cứu của các nhà nghiên cứu văn hóa tín ngưỡng như Nguyễn Văn Hầu, Trần Văn Quế, Huỳnh Minh đều ghi nhận: Vào khoảng năm 1850, trong một lần cùng các vị đệ tử đi viếng Thủy Đài sơn (Núi nước), Phật Thầy Tây An phát hiện dưới gốc cổ thụ có ẩn một tấm bia đá được chôn giấu từ thuở nào, đất bồi lấp gần chìm hết. Qua những nét chữ trên bia, Phật Thầy Tây An cho rằng đó là loại "Cao Biền trấn phù bia" dùng để trấn yểm linh khí.

Theo lịch sử, Cao Biền là một nhân vật có thật, tên chữ là Thiên Lý, sinh vào năm 821, mất năm 887. Ông ta là một viên tướng của nhà Đường được giao chức Tiết Độ Sứ (Thái Thú) có nhiệm vụ cai quản Giao Châu (tên nước Việt cổ) từ năm 866 đến năm 875. Cao Biền rất mê kinh dịch, lý số, phong thủy. Truyền thuyết kể rằng, trong 9 năm đô hộ, Cao Biền đã 3 lần dùng pháp thuật lập bia trấn yểm để "nhốt" linh khí, yểm tài nước ta.

Với phù bia, Cao Biền có tham vọng hùng cứ phương Nam làm vua một cõi. Nghe tin Cao Biền có ý làm phản xưng vương, vua Đường chiêu dụ triệu hồi về nước rồi giết chết vào năm 887. Theo các pháp sư, "Cao Biền trấn phù bia" là một loại bùa trấn yểm linh mạch. Nơi bị trấn yểm sẽ không xuất hiện người tài, cư dân sẽ thần phục người đứng ra trấn yểm.

Căn cứ vào dòng chữ còn sót lại cho thấy bức trấn phù bia này được lập vào năm Càn Long thứ 57 tức là năm 1792. Thời điểm này, Cao Biền đã qua đời gần… 1.000 năm. Căn cứ vào lịch sử, đây là thời điểm Lê Chiêu Thống - vị vua cuối cùng của triều đại nhà Lê - bị Vua Quang Trung đánh đuổi, đang lưu vong ở Trung Hoa để xin vua nhà Thanh cho "rước voi giày mả tổ".

Thời kỳ này, ở phía Nam thuộc về chúa Nguyễn, dư âm phong trào Thiên địa hội phản Thanh phục Minh của thế hệ hậu sinh của Mạc Cửu vẫn còn hoạt động. Phong trào Thiên địa hội có sử dụng nhiều yếu tố tâm linh để quy tựu thành viên. Có lẽ, bức “Cao Biền trấn phù bia” này được Thiên địa hội lập nên với ý đồ hùng cứ vùng đất núi non hiểm trở Thất Sơn.

Trong tài liệu khảo cứu của giáo sư Nguyễn Văn Quế về Bửu Sơn Kỳ Hương và trong các di tự của tín đồ cho biết, sau khi phát hiện ra bức “Cao Biền trấn phù bia”, Phật Thầy Tây An đã sai ông Đạo Lập khai quật lên đục bỏ những chữ bùa rồi đem về chùa Bồng Lai dùng phù chú "giam" trong cái miếu.

Ông Đạo Lập dùng xích sắt có yểm phù "trói" chân đế, phần chìm dưới đất của tấm bia để đảo ngược tác dụng. Có nghĩa là vùng đất bị trấn yểm sẽ nảy sinh nhiều nhân tài. Đó là lý do, dù là bia trấn yểm nhưng các tín đồ vẫn phải hương khói hàng ngày.

Ngoài ra, Phật Thầy Tây An còn sai Quản cơ Trần Văn Thành dùng cây rừng đẽo 5 trụ trấn phù đi cắm ở 5 điểm theo dịch đồ Ngũ long trấn phục bao bọc vùng đất Thất Sơn để làm ranh giới quy tụ dân lập làng kháng chiến chống Pháp.

Những mẩu chuyện về “Cao Biền trấn phù bia” mang đầy màu sắc huyền bí hư ảo nhưng qua đó cũng thể hiện lòng yêu nước, mong muốn bảo vệ bờ cõi chống các thế lực xâm lược của tiền nhân.

Truyền thuyết về ông Đạo Lập

Theo quyển "Khảo cứu lịch sử giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương" của ông Trần Văn Quế -nguyên giảng sư lịch sử Trường đại học Vạn Hạnh và Đại học Văn khoa Sài Gòn (trước năm 1975) thì ông Đạo Lập là 1 trong 12 vị đại đệ tử của Phật Thầy Tây An Đoàn Minh Huyên. 12 vị đại đệ tử này được tín đồ gọi là "Thập nhị hiền thủ".

Ông Đạo Lập có tên khai sinh là Phạm Thái Chung, nguyên quán ở Cồn Tiên, làng Đa Phước, huyện An Phú, tỉnh An Giang (ngày nay là xã Đa Phước). Là người lập nên chùa Bồng Lai nên dân địa phương gọi ông là Đạo Lập. Lúc sinh thời, Phật Thầy Tây An đặt pháp danh cho ông là Sùng Đức Võ Tiên Sinh và thường gọi ông là Đức tiên sinh. Hiện nay, trong bài vị thờ ông tại chùa Bồng Lai lại ghi là "Bồng Lai La Hồng Tiên Sinh".

Không có tài liệu nói ông được xếp hàng thứ mấy trong "thập nhị hiền thủ" nhưng chắc chắn ông là người được Phật Thầy Tây An cắt cử lập làng Bài Bài từ khi khai sáng đạo. Sau khi chiêu mộ dân tứ xứ về lập làng, ông cất ngôi chùa Bồng Lai để tu hành và mở phòng thuốc nam trị bệnh cho dân làng. Khi Cố quản Trần Văn Thành lập chiến khu Bãi Thưa - Láng Linh, chùa Bài Bài được chọn làm nơi chôn 1 trong số 5 cây thẻ trấn biên phù của Phật Thầy Tây An.

Cho đến tận bây giờ, những tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa và Phật giáo Hòa Hảo vẫn tin rằng thuở sinh tiền, ông Đạo Lập được Phật Thầy Tây An truyền mật pháp thần thông, biết đi mây về gió, dùng phù chú trị bệnh. Ông Huỳnh Văn Thiện (đã qua đời) là người từng theo ông Đạo Lập sang núi Tà Lơn tu luyện đã từng kể cho con cháu nghe rất nhiều chuyện về tài hô phong hoán vũ của ông Đạo Lập.

Ông Hai - cháu nội ông Thiện, cư ngụ tại thị xã Châu Đốc cho biết: "Có lần ông nội tôi chứng kiến sư Cố (tức ông Đạo Lập) dùng thần chú điều khiển chiếc tàu không người lái chạy lòng vòng trên sông. Có năm ông nội tôi và một người tên Ngạc theo sư Cố sang núi Tà Lơn tu luyện. Một hôm, sư Cố có việc phải rời khỏi cốc. Đêm đó, ông Ngạc bị trúng gió lăn ra chết bất đắc kỳ tử. Ông nội tôi ôm xác bạn lo lắng suốt đêm. Giữa rừng hoang vu lấy đâu ra chiếu để tẩn liệm. Sáng sớm hôm sau, ông nội tôi ra bìa rừng ngóng trông thì thấy từ xa sư Cố xách gói đồ và chiếc chiếu. Ông nội chưa kịp nói gì thì sư Cố bảo mấy thứ này dùng để tẩn liệm ông Ngạc".

Nữ sĩ Mộng Tuyết nhóm "Hà Tiên tứ tuyệt" (gồm: Mộng Tuyết và chồng là thi sĩ Đông Hồ, Lư Khê, Trúc Hà) đã từng đưa ông Đạo Lập vào bút ký “Ông Đạo Lập quá hải”: Từ trang 356 đến trang 358, bà kể về một chuyến dùng thuyền buồm vượt biển đi buôn của cha bà. Trước khi ra khơi, ông có xin ông Đạo Lập 3 lá bùa hộ mạng. Khi ra đến cửa biển, chiếc thuyền buồm bất ngờ gặp một con kình ngư khổng lồ tấn công. Nhờ ông Đạo Lập dùng phép, chiếc thuyền vượt qua kình ngư về đến đất liền an toàn.

Người dân địa phương cho rằng, khi muốn qua sông, ông Đạo Lập chỉ cần đạp nón lá lướt sóng.

Do nuôi ý đồ lập làng kháng chiến nên ông Đạo Lập trở thành nhân vật bị truy nã của thực dân Pháp. Để ẩn giấu tông tích của ông, các tín đồ không được phép sử dụng tài liệu ghi chép. Vì vậy, không ai nhớ ông sinh năm nào và mất năm nào. Các tín đồ chỉ nhớ ngày giỗ của ông hàng năm vào ngày 29/9 (âm lịch). Theo di ngôn, khi ông qua đời, ngôi mộ được lập ở Vĩnh Ngươn, Châu Đốc nhưng không được đắp nấm. Ngày nay, không ai còn biết chính xác vị trí ngôi mộ ở đâu.

Giải mã những hiện tượng kỳ bí xảy ra trước năm 1975

Vào những năm 1965 - 1972, chùa Bồng Lai được chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đặt trong vùng biệt khu số 44 (gồm Kiến Phong, Châu Đốc và một phần Kiên Giang). Thời điểm này ngôi chùa trở nên linh thiêng, nhiều chuyện huyền bí xảy ra khiến ít người dám bén mảng đến nhất là lực lượng thám báo của lính Việt Nam Cộng hòa (VNCH).

Lúc đó chưa có cầu treo, con kênh Vĩnh Tế cắt ngang khiến Bài Bài trở thành một ốc đảo tiếp giáp đất bạn Campuchia. Có lần viên Thiếu tá Chi khu Châu Đốc biệt phái một thám báo viên gan dạ nửa đêm giả làm dân câu vượt sông mò lên chùa Bồng Lai để tìm thông tin về lực lượng cách mạng. Không hiểu người thám báo này đã gặp chuyện gì mà sáng hôm sau người ta thấy ông ta đi lơ ngơ trong trạng thái tâm thần bất ổn, miệng cứ lảm nhảm mỗi một câu: "Ông già râu dài tha cho con". Sau đó, người này được đưa đi bệnh viện tâm thần điều trị.

Lần khác, viên thiếu tá đích thân chỉ huy một trung đội biệt động được tăng viện về Châu Đốc dùng tàu tuần duyên bất ngờ vượt kênh Vĩnh Tế xông lên chùa để "bắt gọn ổ Việt Cộng". Khi xộc vào chùa, toán lính không thấy một bóng người. Một người lính đứng tiểu ngay góc chánh điện. Bất ngờ người lính này ngã lăn ra, co giật liên hồi. Mọi người xúm lại cấp cứu, bất ngờ anh ta ngồi bật dậy rượt đuổi mọi người cắn đến đổ máu. Cuộc hành quân trở nên hỗn loạn, viên thiếu tá cho trói gô người lính điên rồi lui quân. Khi về đến Châu Đốc, viên thiếu tá phải nhờ một tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương có giữ một mẩu "ông thẻ" mài ra bột hòa nước cho người lính uống mới hóa giải được.

Trong thời gian Nguyễn Văn Thiệu ứng cử tổng thống VNCH lần thứ 2 vào năm 1971, nhiều người dân sống phía bờ bên đây kênh Vĩnh Tế chứng kiến một hiện tượng lạ. Cứ hễ đêm về là người ta thấy một cục lửa màu xanh không phát tia cứ bay qua lại từ nóc chùa Bồng Lai đến một ngọn cây cổ thụ tới sáng. Thấy hiện tượng lạ, mặc dù đó là vùng chính quyền VNCH cấm lai vãng nhưng hàng đêm người ta vẫn lén lút đi xem.

Nhiều người dân địa phương sinh sống lâu năm ở vùng đất này có thể kể suốt năm không hết kho chuyện kỳ bí xảy ra quanh ngôi chùa cổ Bồng Lai. Họ tin tuyệt đối vào những chuyện huyền bí đó.

Tuy nhiên, ông Ba Cư - một cựu chiến binh, 79 tuổi, hiện cư ngụ tại Lấp Vò, Đồng Tháp đã từng là bộ đội chủ lực ém quân tại chùa Bồng Lai khẳng định: "Tất cả những điều kỳ bí đó đều là sản phẩm của chúng tôi. Phải dùng xảo thuật như vậy để tụi lính ngụy, tụi Phượng hoàng (gián điệp) không dám bén mảng tới nơi chúng tôi ém quân".

Dù những chuyện hiển linh không có thật nhưng di tích Ông Thẻ, “Cao Biền trấn phù bia” và những câu chuyện truyền khẩu cũng là một di sản lịch sử chứng minh tinh thần yêu nước bất khuất của tiền nhân

Nông Huyền Sơn (nonghuyenson@gmail.com)