TỔ ĐÌNH TAM BỬU TỰ Ba Chúc - An giang
♠♠๑۩۞۩๑ -KỲ HƯƠNG TỰ- ๑۩۞۩๑♠♠
Trang này được thực hiện bởi các đồng đạo TỨ ÂN HIẾU NGHĨA - TIỀN GIANG

Hiển thị các bài đăng có nhãn đoàn minh huyên. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn đoàn minh huyên. Hiển thị tất cả bài đăng

16 tháng 4, 2013

Đi tìm sự thật về truyền thuyết Mộ Bà – Công chúa Ngọc Hân (tiếp theo và hết)

0 nhận xét
Theo ông Trần Hữu Thành, công chúa Ngọc Hân và 2 người con đào thoát khỏi cuộc tru di của Gia Long là nhờ mưu kế của La Sơn Phu Tử. Theo kế đó thì Ngô Văn Sở đã đem con cháu mình chết thay cho con vua Quang Trung... Để ẩn tích, tránh tai mắt của vua Gia Long, Nguyễn Quang Mục (lấy tên Đoàn Minh Huyên) đã khoác áo nhà sư lập đạo Bửu Sơn Kỳ Hương để mưu đồ tập hợp nhân lực khôi phục lại cơ đồ. Ông Trần Hữu Thành chiết tự: Kỳ Hương đồng nghĩa với Hồ Thơm. Còn Bửu Sơn là Tây Sơn (?!). Bởi vậy, Bửu Sơn Kỳ Hương không thờ tượng mà chỉ thờ tấm vải màu đỏ không chữ tượng trưng cho lá cờ Tây Sơn… ***Ông Ba Thới là ai?*** Chứng cứ mà ông Thành đưa ra là dựa vào một quyển sách của cư sĩ Sripolieu có tựa là "Thân thế Phật thầy Tây An và Ngọc Hân Công chúa qua Kim cổ Kỳ quan" của tác giả cư sĩ Sripolieu. Chúng tôi chưa tìm được lai lịch của vị cư sĩ này. Nhiều người cho rằng cư sĩ Sripolieu là người dân tộc thiểu số, cư trú ở Bạc Liêu từ trước năm 1975. Không ai biết cụ thể ông sinh sống, tồn tại ở địa chỉ nào và bây giờ ở đâu. Quyển sách "Thân thế Phật thầy Tây An và Ngọc Hân Công chúa qua Kim cổ Kỳ quan" được ghi là "Viết xong ngày Mậu Tý, tháng Canh Tý, mùa đông năm Bính Tý", tức ngày 8/11/1966. Sách thuộc loại tự đánh máy, không có giấy phép phát hành của chế độ VNCH, được photo thành nhiều bản rồi trao tay nhau từ trước năm 1975. Từ tựa sách, cho thấy Sripolieu nêu giả thuyết trên dựa vào một quyển sách khác có tên gọi là "Kim cổ Kỳ quan", tác giả là ông Ba Thới. Trong quyển "Thân thế Phật thầy Tây An và Ngọc Hân Công chúa qua Kim cổ Kỳ quan", tác giả Sripolieu cho rằng, ông Ba Thới đã ẩn ý tiết lộ tông tích Phật thầy Tây An trong quyển "Kim cổ Kỳ quan". Ông Ba Thới có tên là Nguyễn Văn Thới đã qua đời từ năm 1925. Ông sinh năm 1866 ở Cao Lãnh, Đồng Tháp, giỏi chữ Nho. Thuở còn trẻ, ông sinh sống bằng nghề "lái rỗi", tức là nghề con buôn thu mua nông, thủy sản dạo. Gặp món gì mua món ấy, mua món nào bán món ấy. Trong một chuyến buôn về vùng Cái Dầu, An Giang, ông gặp Trần Văn Nhu - con trai Quản Cơ Trần Văn Thành. Thời điểm đó, cuộc khởi nghĩa Láng Linh - Bãi Thưa (còn gọi là Bảy Thưa) đã bị Pháp đàn áp, dập tắt. Tuy vậy, ông Nhu vẫn ngấm ngầm tập họp nghĩa sĩ chuẩn bị báo thù cha, phục thù dân tộc, kháng Pháp. Ông Nhu vẫn theo phương pháp của cha dùng lý thuyết tâm linh của Bửu Sơn Kỳ Hương quy tụ nghĩa sĩ. Ông Ba Thới ngộ được chí lớn của ông Trần Văn Nhu nên năm 1905 đã dời cả gia đình về Láng Linh sinh sống. Ông trở thành một quân sư của lãnh tụ kháng chiến Trần Văn Nhu. Ông Nhu dùng chùa Bửu Hương tự còn gọi là chùa Nhà Láng, tức dinh Đức Cố Quản làm nơi họp bàn việc kín. Ngày nay, địa chỉ đó là đền thờ đức cố quản Trần Văn Thành. Mưu sự chưa thành thì năm 1912 mật thám Pháp biết tin. Trong một lần họp kín, nghĩa sĩ đang họp tại Bửu Hương tự thì quân Pháp bất ngờ bao vây. Lãnh tụ Trần Văn Nhu, ông Ba Thới và một số nghĩa sĩ trốn thoát. Pháp bắt được 83 người. Chúng mở phiên tòa kết án giam và đày Côn Đảo 56 người, đồng thời phát lệnh truy nã ông Trần Văn Nhu và ông Ba Thới. Cả hai người thất lạc nhau. Trước tin Pháp cầm tù nghĩa sĩ, trong trạng thái bất lực, ông Ba Thới phẫn uất dùng dao cạo tự cắt cổ mình quyên sinh. Người nhà phát hiện kịp thời đưa ông đi bệnh viện cấp cứu. Do vết cắt đứt gần hết cổ họng, mất máu nhiều, ông mê man bất tỉnh. Khi tỉnh lại, ông cương quyết bứt tháo tất cả những bông băng và đòi về nhà. Ông ra dấu cho người thân rằng: Không sử dụng bất cứ thứ gì của Tây. Người nhà đành đem ông về nhà nằm chờ chết. Điều lạ là vết thương của ông dần hồi phục. Tuy cuống họng đã lành nhưng cổ họng vẫn còn hở, nên cơm ăn vẫn lọt ra ngoài. Trong điều kiện như vậy, ông vẫn tranh thủ sáng tác một số tác phẩm truyền bá tư tưởng "tu lành" và yêu dân tộc. 13 năm sau ông mới qua đời vì chứng bệnh khác. Lúc mưu sự kháng chiến chưa bị lộ, ông có sáng tác một số tác phẩm như: “Thiên tự”, “Cổ vãng kim lai”, “Vân Tiên”… bằng lối thơ thất bát (luân phiên 1 câu 7 từ, 1 câu 8 từ có âm điệu gần giống thơ lục bát). Trong quãng thời gian mang vết cắt ở cổ, ông vẫn sáng tác các tập: “Ngồi buồn”, “Kiểng - Tiên”, “Kim cổ Kỳ quan”, “Cáo thị”, “Tứ đại”, và “Thừa nhàn”. “Kim cổ Kỳ quan” (Những hào quang kỳ lạ từ xưa đến nay) có nội dung ca ngợi lối hành tu theo phái Bửu Sơn Kỳ Hương của Đức Phật thầy Tây An và tiên tri vận mệnh nước nhà (trong bối cảnh thực dân Pháp đô hộ) sẽ độc lập, tự chủ như một cường quốc. Ông dùng hơi hướng tâm linh đưa vào tác phẩm văn học có tính chất sử liệu để tuyên truyền, khơi gợi lòng yêu nước của quần chúng. Trong “Kim cổ Kỳ quan” ông đã ví mối đạo Bửu Sơn Kỳ Hương tương ứng với phong trào áo vải cờ đào của Vua Quang Trung gầy dựng cơ nghiệp Tây Sơn. Những trước tác của ông đều được viết bằng chữ Nôm nhưng được nhiều người truyền tụng như kinh kệ. Chúng tôi đã gặp con cháu nhiều đời của ông Ba Thới. Không ai còn lưu giữ được bản chính của ông bởi một sự cố. Vào những năm kháng Pháp, các tác phẩm của ông Ba Thới hoặc những gì liên quan đến tôn giáo Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa được xem là tài liệu chống chế độ bảo hộ. Sau khi ông qua đời, con cháu cất giấu kỹ trong nhà. Khoảng thập niên 50 thế kỷ XX, một cháu nội của ông Ba Thới là kẻ nghiện rượu, lười biếng. Vì thiếu tiền uống rượu, đã đem cái rương gia bảo của gia đình đi cầm cố cho một người bạn. Thấy chiếc rương cổ, người bạn đồng ý cầm. Khi kẻ nát rượu đi về, người cầm mở rương ra trông thấy những tập thơ. Vốn là một người có học chữ Nôm, ông ta lấy ra đọc rồi thích thú nghiền ngẫm. Một hôm, mưa gió kéo sập ngôi nhà người cầm rương. Nước thấm ướt và xóa mờ rất nhiều trang. Tiếc xót những thi phẩm tôn giáo hay, người cầm rương viết lại. Đến những đoạn chữ nhòe, ông ta chấm lửng. Chép xong, ông ta truyền tay cho bạn bè cùng đọc. Người đọc thấy hay chép tay lại làm của để dành. Những trước tác của ông Ba Thới cứ truyền tay kiểu như thế nên tam sao thất bổn rất nhiều. Khi đến tay cư sĩ Sripolieu thì tác phẩm không còn nguyên nghĩa gốc. Thế nhưng căn cứ vào đó, Sripolieu đã phỏng đoán Đức Phật thầy Tây An Đoàn Minh Huyên có tên thật là Nguyễn Quang Mục - con Vua Quang Trung và thân mẫu là Như Ý Võ Hoàng hậu tức Công chúa Ngọc Hân, là "Bà" ở ngôi mộ Cái Nai. ở núi Sam, Châu Đốc. ***Một truyền thuyết lịch sử*** Trong cuốn "Thân thế Phật thầy Tây An và Ngọc Hân Công chúa qua Kim cổ Kỳ quan". Sripolieu cho rằng, Đức Phật thầy Tây An dùng tên Đoàn Minh Huyên để che giấu tông tích của mình đối với tai mắt nhà Nguyễn. Thông tin đó cứ lan truyền từ mấy chục năm nay cho đến khi lương y Trần Hữu Thành có được bản viết tay "Thân thế Phật thầy Tây An và Ngọc Hân Công chúa qua Kim cổ Kỳ quan". Trong phần lời nói đầu, Sripolieu thừa nhận: "Chúng tôi nghiên cứu và giải thích theo bản in bộ Kim cổ Kỳ quan, xuất bản năm 1957 - Giấy phép số 423 -TTT/PKD Sài Gòn, do ông Trần Quang Lâm ở Láng Linh sao chép lại và dịch ra Quốc ngữ vào năm 1947 từ bản chính quyển “Của xưa để lại". Bản chính quyển "Của xưa để lại" do một người khuyết danh chép tay. Căn cứ vào tiểu sử Đức Phật thầy Tây An cho thấy địa chỉ mộ Bà phù hợp với nơi sinh. Điều đó có thể đoán "Bà" trong ngôi mộ là mẫu thân của Đức Phật thầy Tây An Đoàn Minh Huyên. Đoàn Minh Huyên sinh vào ngày 14/11/1807 và viên tịch vào ngày 10/9/1856. Trong khi đó, Vua Quang Trung Nguyễn Huệ mất vào năm 1792. Căn cứ vào đó cho thấy, Đoàn Minh Huyên chào đời sau khi Vua Quang Trung Nguyễn Huệ mất đến 15 năm. Trong chính sử cũng không thấy nhắc đến người con nào của Vua Quang Trung Nguyễn Huệ có tên là Nguyễn Quang Mục. Theo chính sử, Vua Quang Trung Nguyễn Huệ và Công chúa Ngọc Hân chỉ có 2 người con là Nguyễn Văn Đức và Nguyễn Thị Ngọc. Giả sử, Đoàn Minh Huyên thay tên, đổi tuổi để tránh tai mắt nhà Nguyễn thì 12 đồ đệ thân cận nhất của ngài phải biết. Trong khi đó, ông Ba Thới chào đời sau khi Phật thầy Đoàn Minh Huyên viên tịch đến 10 năm (Phật thầy Tây An sinh năm 1807 - viên tịch năm 1856). Chúng tôi đã trở lại mộ Bà một lần nữa để tìm hiểu về tấm bài vị "Hoàng Lê đường -Cung thỉnh - Hoàng Phủ chi - Lê Phủ vị". Lần trở lại này, cô Ba thủ từ cởi mở hơn. Bà cho biết, thời Pháp, ở địa phương có một ông quan phủ tên Bỉnh hồi hưu về địa phương. Tuy giàu nhưng ông sống một mình không vợ con và đã hiến tặng rất nhiều đất cho phủ thờ mộ Bà. Khi ông qua đời, một người cháu họ của ông tên là Ba Chỉ đem gửi bài vị cho chùa hương khói. Có thể ông phủ Bỉnh có họ Lê. Bây giờ con cháu ông đã tứ tán không ai biết cụ thể bài vị đó như thế nào. Cách nay vài năm, con cháu dòng hoàng tộc họ Lê ở Quảng Nam, nghe tin mộ Bà Cái Nai là mộ Công chúa Ngọc Hân đã lặn lội tìm đến tận nơi xem xét nghiên cứu. Sau đó, có lẽ nhận ra điều ngộ nhận đã lẳng lặng bỏ đi. Qua nhiều năm nghiên cứu, sưu tầm về các giáo phái tín ngưỡng ở vùng Thất Sơn huyền bí, chúng tôi nhận ra rằng các giáo chủ khai đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa đều có chung lòng căm thù ngoại xâm. Họ đã dùng tín ngưỡng, tâm linh để thu phục nhân tâm, khơi gợi lòng yêu nước quần chúng để mưu đồ kháng chiến. Quản cơ Trần Văn Thành cũng sử dụng huyền thoại 5 "ông thẻ" để cắm mốc xây dựng căn cứ địa. Những lãnh tụ khởi nghĩa kháng Pháp như Phan Xích Long, Đạo Tưởng… đều tự xưng mình là "Vua Hàm Nghi tái sanh". Những pháp sư thời nay ở vùng Thất Sơn mỗi khi lên đồng nhập xác cũng thường xưng danh là Quan Công, Tề Thiên hoặc Cử Đa. Không có chứng cứ khoa học biện chứng nào chứng minh mộ Bà ở An Giang là mộ của Công chúa Ngọc Hân cũng như Đức Phật thầy Tây An Đoàn Minh Huyên là con trai Vua Quang Trung. Tất cả điều đó chỉ là lời đồn mang tính huyền hoặc. Lịch sử không thể là thứ dùng tâm linh để phán đoán. Hy vọng những tin đồn thiếu cơ sở khoa học đó không còn lý do tồn tại nữa. (Ảnh: Mộ Đức Phật thầy Tây An - Đoàn Minh Huyên tại núi Sam, Châu Đốc).

15 tháng 3, 2013

Năm Căn cổ tự và truyền thuyết Phật sống Cử Đa

0 nhận xét

Tại thị trấn Tịnh Biên, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang có một ngôi chùa nghèo nằm khiêm tốn ven quốc lộ 91 được người dân địa phương gọi là Năm Căn cổ tự. Họ cho biết trước kia chùa lợp ngói âm dương, vách gỗ, mang nét kiến trúc cổ kính trầm mặc.

Cách đây không lâu, do chùa mục nát, sư trụ trì đã cho xây sửa mới nên nét cổ kính không còn. Vì thiếu tiền, sư cũng chỉ xây tạm bợ, không ra lối kiến trúc nào. Khách hành hương ít lui tới nên ngôi chùa càng thêm buồn tẻ. Ít người biết rằng, trong ngôi chùa buồn tênh đó có một cặp đàn cổ kỳ lạ. Có lẽ bất kỳ nhà khảo cổ tâm huyết nào cũng muốn tìm hiểu lai lịch của nó.

Đó là cặp đàn "kình ngư hóa long" và "thần cù nghênh pháp" được đặt trên bệ thờ tiền hiền nơi chánh điện. Cả hai đều được chế tác bằng gỗ, giống kiểu dáng của độc huyền cầm (đàn 1 dây). Tuy nhiên, chiếc đàn "kình ngư hóa long" chạm trổ theo tích "cá hóa rồng" có đến 9 dây (cửu huyền cầm) và chiếc đàn "linh cù nghênh pháp" chạm trổ theo tích "cá sấu nghe thuyết pháp" có 3 dây (tam huyền cầm).

Sư Thích Thiện Phước hiện đang trụ trì Năm Căn cổ tự cho biết, vị trụ trì đầu tiên của chùa là sư Thượng Quyền Hạ Tịnh, viên tịch năm Nhân Dần, tức 1902. Còn sư Thích Thiện Phước là trụ trì đời thứ 5 của chùa. Khi về trụ trì, sư Phước không thấy chùa lưu giữ bất kỳ tài liệu nào liên quan đến tiểu sử ngôi chùa lẫn cặp đàn độc nhất vô nhị.

Cả hai chiếc đàn đều chế tác theo nguyên lý tạo âm của độc huyền cầm: Gốc dây bắt vào trục điều chỉnh cao độ âm thanh, đầu dây bắt vào cần điều khiển giai điệu. Với cách chế tác như vậy, chắc chắn khi chơi, loại đàn này sẽ tạo ra âm điệu buồn du dương như độc huyền cầm. Những bậc cao niên địa phương cho biết, loại đàn này không phải để giải trí mà để… chuyển hóa vũ trụ, xoay vần tạo hóa. Họ khẳng định cặp đàn này do Phật sống Cử Đa chế tác.

Ông Cử Đa đã chọn cửa ngõ huyết mạch nối liền Cao Miên (Campuchia) đến Thiên Cẩm Sơn (núi Cấm) và Ngọa Long Sơn (núi Tượng) cất một cái miếu để thờ cặp đàn. Thuở đó, vùng Ngọa Long Sơn là đại bản doanh của Đức Quản cơ Trần Văn Thành - người chỉ huy căn cứ Bảy Thưa - Láng Linh kháng Pháp. Sau khi khởi nghĩa Bảy Thưa - Láng Linh thất bại, thực dân Pháp đốt ngôi miếu ấy rất nhiều lần. Cứ mỗi lần bị đốt, ngôi miếu lại được người dân cất mới.

Điều kỳ lạ là cặp đàn bằng gỗ nhưng không bao giờ bị cháy trong những cơn hỏa hoạn. Lần bị thực dân Pháp đốt cuối cùng, nền miếu bị bỏ hoang khá lâu. Một tín đồ Phật giáo hệ Thiền Lâm lánh trần tìm đến đây cất trên nền miếu một ngôi chùa lá. Vị tu sĩ thấy cặp đàn vẫn còn nguyên vẹn đã đặt lên bệ thờ. Những điều này, đáng tiếc là chỉ được truyền miệng chứ không có bất cứ tài liệu lịch sử nào ghi nhận.

**Lần theo dữ liệu lịch sử**

Năm 1840, ông Trần Văn Thành, quê quán ở ấp Bình Phú (Cồn Nhỏ), làng Bình Thạnh Đông, tổng An Lương, huyện Đông Xuyên, tỉnh Châu Đốc (nay thuộc huyện Phú Tân, tỉnh An Giang) gia nhập quân đội nhà Nguyễn giữa lúc Nặc Ông Đôn, em vua Cao Miên dựa vào quân Xiêm La quấy rối biên giới Việt Nam. Trần Văn Thành được triều đình cử làm Suất đội đánh đuổi quân xâm lược Miên - Xiêm.

Năm 1845, sau khi lập được nhiều chiến công, Trần Văn Thành được ban khen "Quản cơ tinh binh" và thăng chức Chánh quản cơ, chỉ huy 500 quân, trú đóng ở Châu Đốc để giữ gìn biên giới phía Tây Nam. Năm 1846, Nặc Ông Đôn quy phục triều đình nhà Nguyễn nên cuối năm Đinh Mùi (1847), Trần Văn Thành xin giải ngũ về quê khẩn hoang làm ruộng và xin theo Phật thầy Tây An Đoàn Minh Huyên học đạo Bửu Sơn Kỳ Hương.

Khi thực dân Pháp chiếm 6 tỉnh Nam Kỳ, An Giang thất thủ, Trần Văn Thành quy tụ những tín đồ hệ phái Bửu Sơn Kỳ Hương lập nên đội quân khởi nghĩa. Trần Văn Thành tổ chức dân binh đắp ụ chiến đấu ở quê nhà (Cồn Nhỏ) để ngăn quân Pháp. Tháng 6/1868, Nguyễn Trung Trực đánh chiếm đồn Kiên Giang bị quân Pháp tổ chức phản công. Hay tin, Trần Văn Thành kéo quân đắp cản ở Ba Bần, Trà Kên (nay đều thuộc huyện Thoại Sơn) để ngăn cản tàu chiến Pháp đi tái chiếm tỉnh lị Rạch Giá, đồng thời cắt cử quân sang Kiên Giang tiếp cứu.

Vũ khí thô sơ không thể chống lại tàu chiến của Pháp, Nguyễn Trung Trực đành lui quân ra Hòn Chông, Kiên Lương, Kiên Giang cố thủ để bảo toàn lực lượng. Trần Văn Thành dẫn lực lượng kháng chiến của mình vào Láng Linh, Bãi Thưa (ngày nay thuộc huyện Châu Phú, tỉnh An Giang) dựng trại, tuyển quân, rèn đúc vũ khí chuẩn bị kháng chiến lâu dài. Ông lấy tên cho lực lượng kháng chiến của mình là Binh Gia Nghị. Trong thời gian này ông đã tổ chức ám sát tên Chủ tỉnh Vĩnh Long là Salicetti tại Vũng Liêm.

Cuối năm 1868, hầu hết các phong trào kháng Pháp tại Nam Kỳ đều bị Pháp đàn áp tan rã gần hết. Lực lượng nghĩa binh của Trần Văn Thành lâm vào thế cô và ông trở thành nhân vật bị Pháp truy nã.

Trong khi quân Pháp được trang bị vũ khí hiện đại, sát thương tầm xa thì vũ khí của quân kháng chiến chủ yếu là gươm, giáo, mác sát thương tầm gần. E ngại nghĩa quân nhụt chí chiến đấu, Trần Văn Thành phải sử dụng niềm tin huyền thuật để hun đúc tinh thần. Lúc này Đoàn Minh Huyên đã viên tịch. Trần Văn Thành đã cùng nhà sư Ngô Tự Lợi (tức đức Bổn sư Ngô Lợi) - một chí sĩ yêu nước khoác áo cà sa - lập nên một tôn giáo mới có tên gọi là Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa lấy nền tảng giáo lý của Bửu Sơn Kỳ Hương để thuyết pháp thu phục tín đồ nhằm quy tụ quần chúng nhân dân tham gia kháng Pháp.

Ngô Lợi kêu gọi người dân tập trung về vùng thánh địa Láng Linh để "Khi trời đất xoay chuyển, những người sống trong vùng đất thánh sẽ tồn tại. Ai ở ngoài sẽ chịu nạn tai" hoặc "Đời Minh Hoàng được thành lập, ai không theo thì bị thú dữ, cọp beo trong rừng ăn thịt". Đó là thời điểm Trần Văn Thành kể câu chuyện đức Phật thầy Tây An sai ngài đi cắm 5 cây thẻ bài trấn yểm theo địa thế "ngũ long trấn phục" ở 5 điểm. Điểm trung tâm đặt trên núi Cấm (hang Ông Thẻ). 4 điểm kia là cột mốc địa giới kháng chiến cách điểm trung tâm hàng chục cây số, bao quanh một khu vực rộng lớn thuộc vùng Tứ giác Long Xuyên.

Cùng thời điểm này, Trần Văn Thành còn chiêu mộ được một võ quan triều Nguyễn, tên thường gọi là Cử Đa. Có truyền thuyết cho rằng, Cử Đa là người của Vua Hàm Nghi phái vào Đàng Trong giúp nghĩa quân. Cử Đa nhận nhiệm vụ huấn luyện võ nghệ cho nghĩa quân. Và võ phái Thất sơn Thần Quyền ra đời từ đây.

Tháng 3/1873, thực dân Pháp tổ chức một trận càn quy mô tấn công căn cứ Bãi Thưa. Sau 5 ngày đêm chiến đấu kiên cường, căn cứ bị vỡ, Trần Văn Thành hy sinh.

Bổn sư Ngô Lợi tiếp tục tái thiết vùng núi Tượng xây căn cứ tôn giáo kháng chiến. Tháng 5/1878, Bổn sư Ngô Lợi tổ chức cho 2 đệ tử thực hiện một cuộc khởi nghĩa ở Cai Lậy, Mỹ Tho nhưng nhanh chóng bị Pháp dẹp tan. Ngô Lợi cùng nhiều nghĩa quân trốn thoát về căn cứ của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa tiếp tục ẩn dưới danh nghĩa tôn giáo nuôi mộng kháng chiến lâu dài. Suốt 12 tháng lập đạo kháng chiến, tôn giáo này chịu tổng cộng 7 trận càn đại quy mô của phân Pháp. Trận càn thứ 6, Pháp bắt được đức Bổn sư Ngô Lợi.

Chiếc đàn tam huyền và bức tượng Phật Cử Đa được “cải biên” thành Đức Đạt Ma.