TỔ ĐÌNH TAM BỬU TỰ Ba Chúc - An giang
♠♠๑۩۞۩๑ -KỲ HƯƠNG TỰ- ๑۩۞۩๑♠♠
Trang này được thực hiện bởi các đồng đạo TỨ ÂN HIẾU NGHĨA - TIỀN GIANG

Hiển thị các bài đăng có nhãn bửu sơn kỳ hương. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bửu sơn kỳ hương. Hiển thị tất cả bài đăng

11 tháng 5, 2013

Tấm bia trấn yểm ở vùng Thất Sơn

0 nhận xét

Hiện tại, nơi hậu liêu chùa Bồng Lai nằm sát mép kênh Vĩnh Tế, xã Vĩnh Tế thuộc thị xã Châu Đốc, An Giang có một ngôi miếu nhỏ, bên trong là một tấm bia đá cổ. Giữa mặt bia không có chữ nhưng nơi viền mép phải có chạm dòng chữ Hán "Hoàng Thanh, Càn Long ngũ thất niên, trọng thu, cốc đán", có nghĩa là "Đời nhà Thanh, Vua Càn Long năm thứ 57, vào tháng 8, mùa thu". Tương truyền tấm bia đó là một đạo "bùa Cao Biền" trấn yểm long mạch vùng Cửu Long của người Tàu để người Việt đời đời phụ thuộc.

Chùa Bồng Lai nằm sát mép kênh Vĩnh Tế, xã Vĩnh Tế thuộc thị xã Châu Đốc, An Giang còn có tên gọi khác là chùa Bài Bài, Bà Bài hoặc chùa Ông Đạo Lập. Ngôi chùa cổ ven biên giới này được ghi nhận là di tích lịch sử cách mạng thời kỳ chống Mỹ của tỉnh An Giang. Đây là một trong những địa chỉ giao liên đầu mối quan trọng của Thị ủy Châu Đốc và là nơi ẩn quân của các đơn vị bộ đội chủ lực trước năm 1975.

Không chỉ là di tích lịch sử cách mạng mà chùa Bồng Lai còn ẩn chứa nhiều di tích tâm linh kỳ thú. Hiện tại, nơi hậu liêu chùa có một ngôi miếu nhỏ, bên trong là một tấm bia đá cổ. Giữa mặt bia không có chữ nhưng nơi viền mép phải có chạm dòng chữ Hán "Hoàng Thanh, Càn Long ngũ thất niên, trọng thu, cốc đán", có nghĩa là "Đời nhà Thanh, Vua Càn Long năm thứ 57, vào tháng 8, mùa thu".

Tương truyền tấm bia đó là một đạo "bùa Cao Biền" trấn yểm long mạch vùng Cửu Long của người Tàu để người Việt đời đời phụ thuộc.

Huyền tích giải ếm phù bia

Tấm bia bằng đá sa thạch, cao khoảng 90 cm, ngang khoảng 40 cm. Giữa mặt bia có vẻ như đã từng có chữ nhưng bị đục xóa trắng. Cô Út Diệu An - người giúp việc công quả thờ phụng trong chùa Bồng Lai từ nhiều năm nay khẳng định: "Cái bia ếm này có từ khi chùa mới lập cách nay hàng thế kỷ. Hàng ngày chúng tôi vẫn phải cắm nhang cúng bái để giữ trấn. Nguyên thủy tấm bia trấn phù này có chữ bùa nhưng đã bị sư Cố đục bỏ để giải ếm".

Sư Cố mà cô Út nhắc đến là sư Lập - người tạo dựng ngôi chùa. Cô Út còn cho biết thêm, tấm bia trấn phù này là một đạo bùa "Cao Biền".

Rất nhiều tài liệu khảo cứu của các nhà nghiên cứu văn hóa tín ngưỡng như Nguyễn Văn Hầu, Trần Văn Quế, Huỳnh Minh đều ghi nhận: Vào khoảng năm 1850, trong một lần cùng các vị đệ tử đi viếng Thủy Đài sơn (Núi nước), Phật Thầy Tây An phát hiện dưới gốc cổ thụ có ẩn một tấm bia đá được chôn giấu từ thuở nào, đất bồi lấp gần chìm hết. Qua những nét chữ trên bia, Phật Thầy Tây An cho rằng đó là loại "Cao Biền trấn phù bia" dùng để trấn yểm linh khí.

Theo lịch sử, Cao Biền là một nhân vật có thật, tên chữ là Thiên Lý, sinh vào năm 821, mất năm 887. Ông ta là một viên tướng của nhà Đường được giao chức Tiết Độ Sứ (Thái Thú) có nhiệm vụ cai quản Giao Châu (tên nước Việt cổ) từ năm 866 đến năm 875. Cao Biền rất mê kinh dịch, lý số, phong thủy. Truyền thuyết kể rằng, trong 9 năm đô hộ, Cao Biền đã 3 lần dùng pháp thuật lập bia trấn yểm để "nhốt" linh khí, yểm tài nước ta.

Với phù bia, Cao Biền có tham vọng hùng cứ phương Nam làm vua một cõi. Nghe tin Cao Biền có ý làm phản xưng vương, vua Đường chiêu dụ triệu hồi về nước rồi giết chết vào năm 887. Theo các pháp sư, "Cao Biền trấn phù bia" là một loại bùa trấn yểm linh mạch. Nơi bị trấn yểm sẽ không xuất hiện người tài, cư dân sẽ thần phục người đứng ra trấn yểm.

Căn cứ vào dòng chữ còn sót lại cho thấy bức trấn phù bia này được lập vào năm Càn Long thứ 57 tức là năm 1792. Thời điểm này, Cao Biền đã qua đời gần… 1.000 năm. Căn cứ vào lịch sử, đây là thời điểm Lê Chiêu Thống - vị vua cuối cùng của triều đại nhà Lê - bị Vua Quang Trung đánh đuổi, đang lưu vong ở Trung Hoa để xin vua nhà Thanh cho "rước voi giày mả tổ".

Thời kỳ này, ở phía Nam thuộc về chúa Nguyễn, dư âm phong trào Thiên địa hội phản Thanh phục Minh của thế hệ hậu sinh của Mạc Cửu vẫn còn hoạt động. Phong trào Thiên địa hội có sử dụng nhiều yếu tố tâm linh để quy tựu thành viên. Có lẽ, bức “Cao Biền trấn phù bia” này được Thiên địa hội lập nên với ý đồ hùng cứ vùng đất núi non hiểm trở Thất Sơn.

Trong tài liệu khảo cứu của giáo sư Nguyễn Văn Quế về Bửu Sơn Kỳ Hương và trong các di tự của tín đồ cho biết, sau khi phát hiện ra bức “Cao Biền trấn phù bia”, Phật Thầy Tây An đã sai ông Đạo Lập khai quật lên đục bỏ những chữ bùa rồi đem về chùa Bồng Lai dùng phù chú "giam" trong cái miếu.

Ông Đạo Lập dùng xích sắt có yểm phù "trói" chân đế, phần chìm dưới đất của tấm bia để đảo ngược tác dụng. Có nghĩa là vùng đất bị trấn yểm sẽ nảy sinh nhiều nhân tài. Đó là lý do, dù là bia trấn yểm nhưng các tín đồ vẫn phải hương khói hàng ngày.

Ngoài ra, Phật Thầy Tây An còn sai Quản cơ Trần Văn Thành dùng cây rừng đẽo 5 trụ trấn phù đi cắm ở 5 điểm theo dịch đồ Ngũ long trấn phục bao bọc vùng đất Thất Sơn để làm ranh giới quy tụ dân lập làng kháng chiến chống Pháp.

Những mẩu chuyện về “Cao Biền trấn phù bia” mang đầy màu sắc huyền bí hư ảo nhưng qua đó cũng thể hiện lòng yêu nước, mong muốn bảo vệ bờ cõi chống các thế lực xâm lược của tiền nhân.

Truyền thuyết về ông Đạo Lập

Theo quyển "Khảo cứu lịch sử giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương" của ông Trần Văn Quế -nguyên giảng sư lịch sử Trường đại học Vạn Hạnh và Đại học Văn khoa Sài Gòn (trước năm 1975) thì ông Đạo Lập là 1 trong 12 vị đại đệ tử của Phật Thầy Tây An Đoàn Minh Huyên. 12 vị đại đệ tử này được tín đồ gọi là "Thập nhị hiền thủ".

Ông Đạo Lập có tên khai sinh là Phạm Thái Chung, nguyên quán ở Cồn Tiên, làng Đa Phước, huyện An Phú, tỉnh An Giang (ngày nay là xã Đa Phước). Là người lập nên chùa Bồng Lai nên dân địa phương gọi ông là Đạo Lập. Lúc sinh thời, Phật Thầy Tây An đặt pháp danh cho ông là Sùng Đức Võ Tiên Sinh và thường gọi ông là Đức tiên sinh. Hiện nay, trong bài vị thờ ông tại chùa Bồng Lai lại ghi là "Bồng Lai La Hồng Tiên Sinh".

Không có tài liệu nói ông được xếp hàng thứ mấy trong "thập nhị hiền thủ" nhưng chắc chắn ông là người được Phật Thầy Tây An cắt cử lập làng Bài Bài từ khi khai sáng đạo. Sau khi chiêu mộ dân tứ xứ về lập làng, ông cất ngôi chùa Bồng Lai để tu hành và mở phòng thuốc nam trị bệnh cho dân làng. Khi Cố quản Trần Văn Thành lập chiến khu Bãi Thưa - Láng Linh, chùa Bài Bài được chọn làm nơi chôn 1 trong số 5 cây thẻ trấn biên phù của Phật Thầy Tây An.

Cho đến tận bây giờ, những tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa và Phật giáo Hòa Hảo vẫn tin rằng thuở sinh tiền, ông Đạo Lập được Phật Thầy Tây An truyền mật pháp thần thông, biết đi mây về gió, dùng phù chú trị bệnh. Ông Huỳnh Văn Thiện (đã qua đời) là người từng theo ông Đạo Lập sang núi Tà Lơn tu luyện đã từng kể cho con cháu nghe rất nhiều chuyện về tài hô phong hoán vũ của ông Đạo Lập.

Ông Hai - cháu nội ông Thiện, cư ngụ tại thị xã Châu Đốc cho biết: "Có lần ông nội tôi chứng kiến sư Cố (tức ông Đạo Lập) dùng thần chú điều khiển chiếc tàu không người lái chạy lòng vòng trên sông. Có năm ông nội tôi và một người tên Ngạc theo sư Cố sang núi Tà Lơn tu luyện. Một hôm, sư Cố có việc phải rời khỏi cốc. Đêm đó, ông Ngạc bị trúng gió lăn ra chết bất đắc kỳ tử. Ông nội tôi ôm xác bạn lo lắng suốt đêm. Giữa rừng hoang vu lấy đâu ra chiếu để tẩn liệm. Sáng sớm hôm sau, ông nội tôi ra bìa rừng ngóng trông thì thấy từ xa sư Cố xách gói đồ và chiếc chiếu. Ông nội chưa kịp nói gì thì sư Cố bảo mấy thứ này dùng để tẩn liệm ông Ngạc".

Nữ sĩ Mộng Tuyết nhóm "Hà Tiên tứ tuyệt" (gồm: Mộng Tuyết và chồng là thi sĩ Đông Hồ, Lư Khê, Trúc Hà) đã từng đưa ông Đạo Lập vào bút ký “Ông Đạo Lập quá hải”: Từ trang 356 đến trang 358, bà kể về một chuyến dùng thuyền buồm vượt biển đi buôn của cha bà. Trước khi ra khơi, ông có xin ông Đạo Lập 3 lá bùa hộ mạng. Khi ra đến cửa biển, chiếc thuyền buồm bất ngờ gặp một con kình ngư khổng lồ tấn công. Nhờ ông Đạo Lập dùng phép, chiếc thuyền vượt qua kình ngư về đến đất liền an toàn.

Người dân địa phương cho rằng, khi muốn qua sông, ông Đạo Lập chỉ cần đạp nón lá lướt sóng.

Do nuôi ý đồ lập làng kháng chiến nên ông Đạo Lập trở thành nhân vật bị truy nã của thực dân Pháp. Để ẩn giấu tông tích của ông, các tín đồ không được phép sử dụng tài liệu ghi chép. Vì vậy, không ai nhớ ông sinh năm nào và mất năm nào. Các tín đồ chỉ nhớ ngày giỗ của ông hàng năm vào ngày 29/9 (âm lịch). Theo di ngôn, khi ông qua đời, ngôi mộ được lập ở Vĩnh Ngươn, Châu Đốc nhưng không được đắp nấm. Ngày nay, không ai còn biết chính xác vị trí ngôi mộ ở đâu.

Giải mã những hiện tượng kỳ bí xảy ra trước năm 1975

Vào những năm 1965 - 1972, chùa Bồng Lai được chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đặt trong vùng biệt khu số 44 (gồm Kiến Phong, Châu Đốc và một phần Kiên Giang). Thời điểm này ngôi chùa trở nên linh thiêng, nhiều chuyện huyền bí xảy ra khiến ít người dám bén mảng đến nhất là lực lượng thám báo của lính Việt Nam Cộng hòa (VNCH).

Lúc đó chưa có cầu treo, con kênh Vĩnh Tế cắt ngang khiến Bài Bài trở thành một ốc đảo tiếp giáp đất bạn Campuchia. Có lần viên Thiếu tá Chi khu Châu Đốc biệt phái một thám báo viên gan dạ nửa đêm giả làm dân câu vượt sông mò lên chùa Bồng Lai để tìm thông tin về lực lượng cách mạng. Không hiểu người thám báo này đã gặp chuyện gì mà sáng hôm sau người ta thấy ông ta đi lơ ngơ trong trạng thái tâm thần bất ổn, miệng cứ lảm nhảm mỗi một câu: "Ông già râu dài tha cho con". Sau đó, người này được đưa đi bệnh viện tâm thần điều trị.

Lần khác, viên thiếu tá đích thân chỉ huy một trung đội biệt động được tăng viện về Châu Đốc dùng tàu tuần duyên bất ngờ vượt kênh Vĩnh Tế xông lên chùa để "bắt gọn ổ Việt Cộng". Khi xộc vào chùa, toán lính không thấy một bóng người. Một người lính đứng tiểu ngay góc chánh điện. Bất ngờ người lính này ngã lăn ra, co giật liên hồi. Mọi người xúm lại cấp cứu, bất ngờ anh ta ngồi bật dậy rượt đuổi mọi người cắn đến đổ máu. Cuộc hành quân trở nên hỗn loạn, viên thiếu tá cho trói gô người lính điên rồi lui quân. Khi về đến Châu Đốc, viên thiếu tá phải nhờ một tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương có giữ một mẩu "ông thẻ" mài ra bột hòa nước cho người lính uống mới hóa giải được.

Trong thời gian Nguyễn Văn Thiệu ứng cử tổng thống VNCH lần thứ 2 vào năm 1971, nhiều người dân sống phía bờ bên đây kênh Vĩnh Tế chứng kiến một hiện tượng lạ. Cứ hễ đêm về là người ta thấy một cục lửa màu xanh không phát tia cứ bay qua lại từ nóc chùa Bồng Lai đến một ngọn cây cổ thụ tới sáng. Thấy hiện tượng lạ, mặc dù đó là vùng chính quyền VNCH cấm lai vãng nhưng hàng đêm người ta vẫn lén lút đi xem.

Nhiều người dân địa phương sinh sống lâu năm ở vùng đất này có thể kể suốt năm không hết kho chuyện kỳ bí xảy ra quanh ngôi chùa cổ Bồng Lai. Họ tin tuyệt đối vào những chuyện huyền bí đó.

Tuy nhiên, ông Ba Cư - một cựu chiến binh, 79 tuổi, hiện cư ngụ tại Lấp Vò, Đồng Tháp đã từng là bộ đội chủ lực ém quân tại chùa Bồng Lai khẳng định: "Tất cả những điều kỳ bí đó đều là sản phẩm của chúng tôi. Phải dùng xảo thuật như vậy để tụi lính ngụy, tụi Phượng hoàng (gián điệp) không dám bén mảng tới nơi chúng tôi ém quân".

Dù những chuyện hiển linh không có thật nhưng di tích Ông Thẻ, “Cao Biền trấn phù bia” và những câu chuyện truyền khẩu cũng là một di sản lịch sử chứng minh tinh thần yêu nước bất khuất của tiền nhân

Nông Huyền Sơn (nonghuyenson@gmail.com)

16 tháng 4, 2013

Đi tìm sự thật về truyền thuyết Mộ Bà – Công chúa Ngọc Hân (tiếp theo và hết)

0 nhận xét
Theo ông Trần Hữu Thành, công chúa Ngọc Hân và 2 người con đào thoát khỏi cuộc tru di của Gia Long là nhờ mưu kế của La Sơn Phu Tử. Theo kế đó thì Ngô Văn Sở đã đem con cháu mình chết thay cho con vua Quang Trung... Để ẩn tích, tránh tai mắt của vua Gia Long, Nguyễn Quang Mục (lấy tên Đoàn Minh Huyên) đã khoác áo nhà sư lập đạo Bửu Sơn Kỳ Hương để mưu đồ tập hợp nhân lực khôi phục lại cơ đồ. Ông Trần Hữu Thành chiết tự: Kỳ Hương đồng nghĩa với Hồ Thơm. Còn Bửu Sơn là Tây Sơn (?!). Bởi vậy, Bửu Sơn Kỳ Hương không thờ tượng mà chỉ thờ tấm vải màu đỏ không chữ tượng trưng cho lá cờ Tây Sơn… ***Ông Ba Thới là ai?*** Chứng cứ mà ông Thành đưa ra là dựa vào một quyển sách của cư sĩ Sripolieu có tựa là "Thân thế Phật thầy Tây An và Ngọc Hân Công chúa qua Kim cổ Kỳ quan" của tác giả cư sĩ Sripolieu. Chúng tôi chưa tìm được lai lịch của vị cư sĩ này. Nhiều người cho rằng cư sĩ Sripolieu là người dân tộc thiểu số, cư trú ở Bạc Liêu từ trước năm 1975. Không ai biết cụ thể ông sinh sống, tồn tại ở địa chỉ nào và bây giờ ở đâu. Quyển sách "Thân thế Phật thầy Tây An và Ngọc Hân Công chúa qua Kim cổ Kỳ quan" được ghi là "Viết xong ngày Mậu Tý, tháng Canh Tý, mùa đông năm Bính Tý", tức ngày 8/11/1966. Sách thuộc loại tự đánh máy, không có giấy phép phát hành của chế độ VNCH, được photo thành nhiều bản rồi trao tay nhau từ trước năm 1975. Từ tựa sách, cho thấy Sripolieu nêu giả thuyết trên dựa vào một quyển sách khác có tên gọi là "Kim cổ Kỳ quan", tác giả là ông Ba Thới. Trong quyển "Thân thế Phật thầy Tây An và Ngọc Hân Công chúa qua Kim cổ Kỳ quan", tác giả Sripolieu cho rằng, ông Ba Thới đã ẩn ý tiết lộ tông tích Phật thầy Tây An trong quyển "Kim cổ Kỳ quan". Ông Ba Thới có tên là Nguyễn Văn Thới đã qua đời từ năm 1925. Ông sinh năm 1866 ở Cao Lãnh, Đồng Tháp, giỏi chữ Nho. Thuở còn trẻ, ông sinh sống bằng nghề "lái rỗi", tức là nghề con buôn thu mua nông, thủy sản dạo. Gặp món gì mua món ấy, mua món nào bán món ấy. Trong một chuyến buôn về vùng Cái Dầu, An Giang, ông gặp Trần Văn Nhu - con trai Quản Cơ Trần Văn Thành. Thời điểm đó, cuộc khởi nghĩa Láng Linh - Bãi Thưa (còn gọi là Bảy Thưa) đã bị Pháp đàn áp, dập tắt. Tuy vậy, ông Nhu vẫn ngấm ngầm tập họp nghĩa sĩ chuẩn bị báo thù cha, phục thù dân tộc, kháng Pháp. Ông Nhu vẫn theo phương pháp của cha dùng lý thuyết tâm linh của Bửu Sơn Kỳ Hương quy tụ nghĩa sĩ. Ông Ba Thới ngộ được chí lớn của ông Trần Văn Nhu nên năm 1905 đã dời cả gia đình về Láng Linh sinh sống. Ông trở thành một quân sư của lãnh tụ kháng chiến Trần Văn Nhu. Ông Nhu dùng chùa Bửu Hương tự còn gọi là chùa Nhà Láng, tức dinh Đức Cố Quản làm nơi họp bàn việc kín. Ngày nay, địa chỉ đó là đền thờ đức cố quản Trần Văn Thành. Mưu sự chưa thành thì năm 1912 mật thám Pháp biết tin. Trong một lần họp kín, nghĩa sĩ đang họp tại Bửu Hương tự thì quân Pháp bất ngờ bao vây. Lãnh tụ Trần Văn Nhu, ông Ba Thới và một số nghĩa sĩ trốn thoát. Pháp bắt được 83 người. Chúng mở phiên tòa kết án giam và đày Côn Đảo 56 người, đồng thời phát lệnh truy nã ông Trần Văn Nhu và ông Ba Thới. Cả hai người thất lạc nhau. Trước tin Pháp cầm tù nghĩa sĩ, trong trạng thái bất lực, ông Ba Thới phẫn uất dùng dao cạo tự cắt cổ mình quyên sinh. Người nhà phát hiện kịp thời đưa ông đi bệnh viện cấp cứu. Do vết cắt đứt gần hết cổ họng, mất máu nhiều, ông mê man bất tỉnh. Khi tỉnh lại, ông cương quyết bứt tháo tất cả những bông băng và đòi về nhà. Ông ra dấu cho người thân rằng: Không sử dụng bất cứ thứ gì của Tây. Người nhà đành đem ông về nhà nằm chờ chết. Điều lạ là vết thương của ông dần hồi phục. Tuy cuống họng đã lành nhưng cổ họng vẫn còn hở, nên cơm ăn vẫn lọt ra ngoài. Trong điều kiện như vậy, ông vẫn tranh thủ sáng tác một số tác phẩm truyền bá tư tưởng "tu lành" và yêu dân tộc. 13 năm sau ông mới qua đời vì chứng bệnh khác. Lúc mưu sự kháng chiến chưa bị lộ, ông có sáng tác một số tác phẩm như: “Thiên tự”, “Cổ vãng kim lai”, “Vân Tiên”… bằng lối thơ thất bát (luân phiên 1 câu 7 từ, 1 câu 8 từ có âm điệu gần giống thơ lục bát). Trong quãng thời gian mang vết cắt ở cổ, ông vẫn sáng tác các tập: “Ngồi buồn”, “Kiểng - Tiên”, “Kim cổ Kỳ quan”, “Cáo thị”, “Tứ đại”, và “Thừa nhàn”. “Kim cổ Kỳ quan” (Những hào quang kỳ lạ từ xưa đến nay) có nội dung ca ngợi lối hành tu theo phái Bửu Sơn Kỳ Hương của Đức Phật thầy Tây An và tiên tri vận mệnh nước nhà (trong bối cảnh thực dân Pháp đô hộ) sẽ độc lập, tự chủ như một cường quốc. Ông dùng hơi hướng tâm linh đưa vào tác phẩm văn học có tính chất sử liệu để tuyên truyền, khơi gợi lòng yêu nước của quần chúng. Trong “Kim cổ Kỳ quan” ông đã ví mối đạo Bửu Sơn Kỳ Hương tương ứng với phong trào áo vải cờ đào của Vua Quang Trung gầy dựng cơ nghiệp Tây Sơn. Những trước tác của ông đều được viết bằng chữ Nôm nhưng được nhiều người truyền tụng như kinh kệ. Chúng tôi đã gặp con cháu nhiều đời của ông Ba Thới. Không ai còn lưu giữ được bản chính của ông bởi một sự cố. Vào những năm kháng Pháp, các tác phẩm của ông Ba Thới hoặc những gì liên quan đến tôn giáo Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa được xem là tài liệu chống chế độ bảo hộ. Sau khi ông qua đời, con cháu cất giấu kỹ trong nhà. Khoảng thập niên 50 thế kỷ XX, một cháu nội của ông Ba Thới là kẻ nghiện rượu, lười biếng. Vì thiếu tiền uống rượu, đã đem cái rương gia bảo của gia đình đi cầm cố cho một người bạn. Thấy chiếc rương cổ, người bạn đồng ý cầm. Khi kẻ nát rượu đi về, người cầm mở rương ra trông thấy những tập thơ. Vốn là một người có học chữ Nôm, ông ta lấy ra đọc rồi thích thú nghiền ngẫm. Một hôm, mưa gió kéo sập ngôi nhà người cầm rương. Nước thấm ướt và xóa mờ rất nhiều trang. Tiếc xót những thi phẩm tôn giáo hay, người cầm rương viết lại. Đến những đoạn chữ nhòe, ông ta chấm lửng. Chép xong, ông ta truyền tay cho bạn bè cùng đọc. Người đọc thấy hay chép tay lại làm của để dành. Những trước tác của ông Ba Thới cứ truyền tay kiểu như thế nên tam sao thất bổn rất nhiều. Khi đến tay cư sĩ Sripolieu thì tác phẩm không còn nguyên nghĩa gốc. Thế nhưng căn cứ vào đó, Sripolieu đã phỏng đoán Đức Phật thầy Tây An Đoàn Minh Huyên có tên thật là Nguyễn Quang Mục - con Vua Quang Trung và thân mẫu là Như Ý Võ Hoàng hậu tức Công chúa Ngọc Hân, là "Bà" ở ngôi mộ Cái Nai. ở núi Sam, Châu Đốc. ***Một truyền thuyết lịch sử*** Trong cuốn "Thân thế Phật thầy Tây An và Ngọc Hân Công chúa qua Kim cổ Kỳ quan". Sripolieu cho rằng, Đức Phật thầy Tây An dùng tên Đoàn Minh Huyên để che giấu tông tích của mình đối với tai mắt nhà Nguyễn. Thông tin đó cứ lan truyền từ mấy chục năm nay cho đến khi lương y Trần Hữu Thành có được bản viết tay "Thân thế Phật thầy Tây An và Ngọc Hân Công chúa qua Kim cổ Kỳ quan". Trong phần lời nói đầu, Sripolieu thừa nhận: "Chúng tôi nghiên cứu và giải thích theo bản in bộ Kim cổ Kỳ quan, xuất bản năm 1957 - Giấy phép số 423 -TTT/PKD Sài Gòn, do ông Trần Quang Lâm ở Láng Linh sao chép lại và dịch ra Quốc ngữ vào năm 1947 từ bản chính quyển “Của xưa để lại". Bản chính quyển "Của xưa để lại" do một người khuyết danh chép tay. Căn cứ vào tiểu sử Đức Phật thầy Tây An cho thấy địa chỉ mộ Bà phù hợp với nơi sinh. Điều đó có thể đoán "Bà" trong ngôi mộ là mẫu thân của Đức Phật thầy Tây An Đoàn Minh Huyên. Đoàn Minh Huyên sinh vào ngày 14/11/1807 và viên tịch vào ngày 10/9/1856. Trong khi đó, Vua Quang Trung Nguyễn Huệ mất vào năm 1792. Căn cứ vào đó cho thấy, Đoàn Minh Huyên chào đời sau khi Vua Quang Trung Nguyễn Huệ mất đến 15 năm. Trong chính sử cũng không thấy nhắc đến người con nào của Vua Quang Trung Nguyễn Huệ có tên là Nguyễn Quang Mục. Theo chính sử, Vua Quang Trung Nguyễn Huệ và Công chúa Ngọc Hân chỉ có 2 người con là Nguyễn Văn Đức và Nguyễn Thị Ngọc. Giả sử, Đoàn Minh Huyên thay tên, đổi tuổi để tránh tai mắt nhà Nguyễn thì 12 đồ đệ thân cận nhất của ngài phải biết. Trong khi đó, ông Ba Thới chào đời sau khi Phật thầy Đoàn Minh Huyên viên tịch đến 10 năm (Phật thầy Tây An sinh năm 1807 - viên tịch năm 1856). Chúng tôi đã trở lại mộ Bà một lần nữa để tìm hiểu về tấm bài vị "Hoàng Lê đường -Cung thỉnh - Hoàng Phủ chi - Lê Phủ vị". Lần trở lại này, cô Ba thủ từ cởi mở hơn. Bà cho biết, thời Pháp, ở địa phương có một ông quan phủ tên Bỉnh hồi hưu về địa phương. Tuy giàu nhưng ông sống một mình không vợ con và đã hiến tặng rất nhiều đất cho phủ thờ mộ Bà. Khi ông qua đời, một người cháu họ của ông tên là Ba Chỉ đem gửi bài vị cho chùa hương khói. Có thể ông phủ Bỉnh có họ Lê. Bây giờ con cháu ông đã tứ tán không ai biết cụ thể bài vị đó như thế nào. Cách nay vài năm, con cháu dòng hoàng tộc họ Lê ở Quảng Nam, nghe tin mộ Bà Cái Nai là mộ Công chúa Ngọc Hân đã lặn lội tìm đến tận nơi xem xét nghiên cứu. Sau đó, có lẽ nhận ra điều ngộ nhận đã lẳng lặng bỏ đi. Qua nhiều năm nghiên cứu, sưu tầm về các giáo phái tín ngưỡng ở vùng Thất Sơn huyền bí, chúng tôi nhận ra rằng các giáo chủ khai đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa đều có chung lòng căm thù ngoại xâm. Họ đã dùng tín ngưỡng, tâm linh để thu phục nhân tâm, khơi gợi lòng yêu nước quần chúng để mưu đồ kháng chiến. Quản cơ Trần Văn Thành cũng sử dụng huyền thoại 5 "ông thẻ" để cắm mốc xây dựng căn cứ địa. Những lãnh tụ khởi nghĩa kháng Pháp như Phan Xích Long, Đạo Tưởng… đều tự xưng mình là "Vua Hàm Nghi tái sanh". Những pháp sư thời nay ở vùng Thất Sơn mỗi khi lên đồng nhập xác cũng thường xưng danh là Quan Công, Tề Thiên hoặc Cử Đa. Không có chứng cứ khoa học biện chứng nào chứng minh mộ Bà ở An Giang là mộ của Công chúa Ngọc Hân cũng như Đức Phật thầy Tây An Đoàn Minh Huyên là con trai Vua Quang Trung. Tất cả điều đó chỉ là lời đồn mang tính huyền hoặc. Lịch sử không thể là thứ dùng tâm linh để phán đoán. Hy vọng những tin đồn thiếu cơ sở khoa học đó không còn lý do tồn tại nữa. (Ảnh: Mộ Đức Phật thầy Tây An - Đoàn Minh Huyên tại núi Sam, Châu Đốc).

15 tháng 3, 2013

Năm Căn cổ tự và truyền thuyết Phật sống Cử Đa

0 nhận xét

Tại thị trấn Tịnh Biên, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang có một ngôi chùa nghèo nằm khiêm tốn ven quốc lộ 91 được người dân địa phương gọi là Năm Căn cổ tự. Họ cho biết trước kia chùa lợp ngói âm dương, vách gỗ, mang nét kiến trúc cổ kính trầm mặc.

Cách đây không lâu, do chùa mục nát, sư trụ trì đã cho xây sửa mới nên nét cổ kính không còn. Vì thiếu tiền, sư cũng chỉ xây tạm bợ, không ra lối kiến trúc nào. Khách hành hương ít lui tới nên ngôi chùa càng thêm buồn tẻ. Ít người biết rằng, trong ngôi chùa buồn tênh đó có một cặp đàn cổ kỳ lạ. Có lẽ bất kỳ nhà khảo cổ tâm huyết nào cũng muốn tìm hiểu lai lịch của nó.

Đó là cặp đàn "kình ngư hóa long" và "thần cù nghênh pháp" được đặt trên bệ thờ tiền hiền nơi chánh điện. Cả hai đều được chế tác bằng gỗ, giống kiểu dáng của độc huyền cầm (đàn 1 dây). Tuy nhiên, chiếc đàn "kình ngư hóa long" chạm trổ theo tích "cá hóa rồng" có đến 9 dây (cửu huyền cầm) và chiếc đàn "linh cù nghênh pháp" chạm trổ theo tích "cá sấu nghe thuyết pháp" có 3 dây (tam huyền cầm).

Sư Thích Thiện Phước hiện đang trụ trì Năm Căn cổ tự cho biết, vị trụ trì đầu tiên của chùa là sư Thượng Quyền Hạ Tịnh, viên tịch năm Nhân Dần, tức 1902. Còn sư Thích Thiện Phước là trụ trì đời thứ 5 của chùa. Khi về trụ trì, sư Phước không thấy chùa lưu giữ bất kỳ tài liệu nào liên quan đến tiểu sử ngôi chùa lẫn cặp đàn độc nhất vô nhị.

Cả hai chiếc đàn đều chế tác theo nguyên lý tạo âm của độc huyền cầm: Gốc dây bắt vào trục điều chỉnh cao độ âm thanh, đầu dây bắt vào cần điều khiển giai điệu. Với cách chế tác như vậy, chắc chắn khi chơi, loại đàn này sẽ tạo ra âm điệu buồn du dương như độc huyền cầm. Những bậc cao niên địa phương cho biết, loại đàn này không phải để giải trí mà để… chuyển hóa vũ trụ, xoay vần tạo hóa. Họ khẳng định cặp đàn này do Phật sống Cử Đa chế tác.

Ông Cử Đa đã chọn cửa ngõ huyết mạch nối liền Cao Miên (Campuchia) đến Thiên Cẩm Sơn (núi Cấm) và Ngọa Long Sơn (núi Tượng) cất một cái miếu để thờ cặp đàn. Thuở đó, vùng Ngọa Long Sơn là đại bản doanh của Đức Quản cơ Trần Văn Thành - người chỉ huy căn cứ Bảy Thưa - Láng Linh kháng Pháp. Sau khi khởi nghĩa Bảy Thưa - Láng Linh thất bại, thực dân Pháp đốt ngôi miếu ấy rất nhiều lần. Cứ mỗi lần bị đốt, ngôi miếu lại được người dân cất mới.

Điều kỳ lạ là cặp đàn bằng gỗ nhưng không bao giờ bị cháy trong những cơn hỏa hoạn. Lần bị thực dân Pháp đốt cuối cùng, nền miếu bị bỏ hoang khá lâu. Một tín đồ Phật giáo hệ Thiền Lâm lánh trần tìm đến đây cất trên nền miếu một ngôi chùa lá. Vị tu sĩ thấy cặp đàn vẫn còn nguyên vẹn đã đặt lên bệ thờ. Những điều này, đáng tiếc là chỉ được truyền miệng chứ không có bất cứ tài liệu lịch sử nào ghi nhận.

**Lần theo dữ liệu lịch sử**

Năm 1840, ông Trần Văn Thành, quê quán ở ấp Bình Phú (Cồn Nhỏ), làng Bình Thạnh Đông, tổng An Lương, huyện Đông Xuyên, tỉnh Châu Đốc (nay thuộc huyện Phú Tân, tỉnh An Giang) gia nhập quân đội nhà Nguyễn giữa lúc Nặc Ông Đôn, em vua Cao Miên dựa vào quân Xiêm La quấy rối biên giới Việt Nam. Trần Văn Thành được triều đình cử làm Suất đội đánh đuổi quân xâm lược Miên - Xiêm.

Năm 1845, sau khi lập được nhiều chiến công, Trần Văn Thành được ban khen "Quản cơ tinh binh" và thăng chức Chánh quản cơ, chỉ huy 500 quân, trú đóng ở Châu Đốc để giữ gìn biên giới phía Tây Nam. Năm 1846, Nặc Ông Đôn quy phục triều đình nhà Nguyễn nên cuối năm Đinh Mùi (1847), Trần Văn Thành xin giải ngũ về quê khẩn hoang làm ruộng và xin theo Phật thầy Tây An Đoàn Minh Huyên học đạo Bửu Sơn Kỳ Hương.

Khi thực dân Pháp chiếm 6 tỉnh Nam Kỳ, An Giang thất thủ, Trần Văn Thành quy tụ những tín đồ hệ phái Bửu Sơn Kỳ Hương lập nên đội quân khởi nghĩa. Trần Văn Thành tổ chức dân binh đắp ụ chiến đấu ở quê nhà (Cồn Nhỏ) để ngăn quân Pháp. Tháng 6/1868, Nguyễn Trung Trực đánh chiếm đồn Kiên Giang bị quân Pháp tổ chức phản công. Hay tin, Trần Văn Thành kéo quân đắp cản ở Ba Bần, Trà Kên (nay đều thuộc huyện Thoại Sơn) để ngăn cản tàu chiến Pháp đi tái chiếm tỉnh lị Rạch Giá, đồng thời cắt cử quân sang Kiên Giang tiếp cứu.

Vũ khí thô sơ không thể chống lại tàu chiến của Pháp, Nguyễn Trung Trực đành lui quân ra Hòn Chông, Kiên Lương, Kiên Giang cố thủ để bảo toàn lực lượng. Trần Văn Thành dẫn lực lượng kháng chiến của mình vào Láng Linh, Bãi Thưa (ngày nay thuộc huyện Châu Phú, tỉnh An Giang) dựng trại, tuyển quân, rèn đúc vũ khí chuẩn bị kháng chiến lâu dài. Ông lấy tên cho lực lượng kháng chiến của mình là Binh Gia Nghị. Trong thời gian này ông đã tổ chức ám sát tên Chủ tỉnh Vĩnh Long là Salicetti tại Vũng Liêm.

Cuối năm 1868, hầu hết các phong trào kháng Pháp tại Nam Kỳ đều bị Pháp đàn áp tan rã gần hết. Lực lượng nghĩa binh của Trần Văn Thành lâm vào thế cô và ông trở thành nhân vật bị Pháp truy nã.

Trong khi quân Pháp được trang bị vũ khí hiện đại, sát thương tầm xa thì vũ khí của quân kháng chiến chủ yếu là gươm, giáo, mác sát thương tầm gần. E ngại nghĩa quân nhụt chí chiến đấu, Trần Văn Thành phải sử dụng niềm tin huyền thuật để hun đúc tinh thần. Lúc này Đoàn Minh Huyên đã viên tịch. Trần Văn Thành đã cùng nhà sư Ngô Tự Lợi (tức đức Bổn sư Ngô Lợi) - một chí sĩ yêu nước khoác áo cà sa - lập nên một tôn giáo mới có tên gọi là Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa lấy nền tảng giáo lý của Bửu Sơn Kỳ Hương để thuyết pháp thu phục tín đồ nhằm quy tụ quần chúng nhân dân tham gia kháng Pháp.

Ngô Lợi kêu gọi người dân tập trung về vùng thánh địa Láng Linh để "Khi trời đất xoay chuyển, những người sống trong vùng đất thánh sẽ tồn tại. Ai ở ngoài sẽ chịu nạn tai" hoặc "Đời Minh Hoàng được thành lập, ai không theo thì bị thú dữ, cọp beo trong rừng ăn thịt". Đó là thời điểm Trần Văn Thành kể câu chuyện đức Phật thầy Tây An sai ngài đi cắm 5 cây thẻ bài trấn yểm theo địa thế "ngũ long trấn phục" ở 5 điểm. Điểm trung tâm đặt trên núi Cấm (hang Ông Thẻ). 4 điểm kia là cột mốc địa giới kháng chiến cách điểm trung tâm hàng chục cây số, bao quanh một khu vực rộng lớn thuộc vùng Tứ giác Long Xuyên.

Cùng thời điểm này, Trần Văn Thành còn chiêu mộ được một võ quan triều Nguyễn, tên thường gọi là Cử Đa. Có truyền thuyết cho rằng, Cử Đa là người của Vua Hàm Nghi phái vào Đàng Trong giúp nghĩa quân. Cử Đa nhận nhiệm vụ huấn luyện võ nghệ cho nghĩa quân. Và võ phái Thất sơn Thần Quyền ra đời từ đây.

Tháng 3/1873, thực dân Pháp tổ chức một trận càn quy mô tấn công căn cứ Bãi Thưa. Sau 5 ngày đêm chiến đấu kiên cường, căn cứ bị vỡ, Trần Văn Thành hy sinh.

Bổn sư Ngô Lợi tiếp tục tái thiết vùng núi Tượng xây căn cứ tôn giáo kháng chiến. Tháng 5/1878, Bổn sư Ngô Lợi tổ chức cho 2 đệ tử thực hiện một cuộc khởi nghĩa ở Cai Lậy, Mỹ Tho nhưng nhanh chóng bị Pháp dẹp tan. Ngô Lợi cùng nhiều nghĩa quân trốn thoát về căn cứ của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa tiếp tục ẩn dưới danh nghĩa tôn giáo nuôi mộng kháng chiến lâu dài. Suốt 12 tháng lập đạo kháng chiến, tôn giáo này chịu tổng cộng 7 trận càn đại quy mô của phân Pháp. Trận càn thứ 6, Pháp bắt được đức Bổn sư Ngô Lợi.

Chiếc đàn tam huyền và bức tượng Phật Cử Đa được “cải biên” thành Đức Đạt Ma.