TỔ ĐÌNH TAM BỬU TỰ Ba Chúc - An giang
♠♠๑۩۞۩๑ -KỲ HƯƠNG TỰ- ๑۩۞۩๑♠♠
Trang này được thực hiện bởi các đồng đạo TỨ ÂN HIẾU NGHĨA - TIỀN GIANG

17 tháng 4, 2012

Đạo và đời - TỨ ÂN HIẾU NGHĨA

0 nhận xét
Đạo và Đời - Tứ Ân Hiếu Nghĩa
(Video clip này sẽ được đăng tải trong thời gian sớm nhất, hoặc vui lòng click vào link trên để xem!)


16 tháng 4, 2012

Chuyện về người gọi hồn dưới chân núi Tượng!

0 nhận xét


Thứ Hai, 16/04/2012 - 2:12 PM
Chuyện về người gọi hồn dưới chân núi Tượng!


Đã hơn 30 năm trôi qua, chính xác là 34 năm nhưng mỗi khi có ai nhắc đến quá khứ kinh hoàng, ông Bùi Văn Lê (thường gọi Ba Lê), Trưởng Ban quản tự chùa Tam Bửu (thị trấn Ba Chúc, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang) luôn sầu giọng. Lần này cũng vậy, nỗi đau mất mát tưởng đã ngủ yên hơn 3 thập kỷ qua trong ông sống lại.


Ông Ba Lê ký tặng sách viết về đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa cho tác giả bài viết.
Hướng ánh mắt ngấn nước về phía trước - nơi có ngôi mộ tập thể chứa đựng hài cốt hơn 1.000 thường dân bị quân diệt chủng Pôn Pốt sát hại vào năm 1978, ông Ba Lê thổ lộ rằng vợ con ông cùng hàng chục người thân cũng chết thảm dưới bàn tay bạo tàn của đội quân khát máu. Nhưng khác ở chỗ xác người thân của ông ở lại với núi Tượng, trong một hang đá mà ông đã… bít lối!
Được công nhân Di tích lịch sử-văn hóa quốc gia năm 1989, chùa Tam Bửu nơi ông Ba Lê làm Trưởng ban quản tự thuộc địa phận ấp An Định, thị trấn Ba Chúc. Chùa nằm dưới chân núi Tượng, một ngọn núi nhỏ dáng voi phục, chiều cao khiêm tốn, 145m. Các bậc cao niên ở vùng cho biết chùa Tam Bửu được ông Ngô Lợi cùng những môn đệ tạo lập vào tháng 6-1882, sau quá trình khẩn hoang lập thôn ấp để gây dựng lực lượng, chờ thời cơ đánh Pháp. Ông Ngô Lợi là một chí sĩ yêu nước trong phong trào Cần Vương chống Pháp do vua Hàm Nghi khởi xướng, đồng thời là người sáng lập đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa.
Ông Lê Văn Đức, nguyên Trưởng ban Tổ chức chùa Tam Bửu cho biết, trước và sau khi chùa Tam Bửu được thành lập, ấp An Định đã trải qua nhiều đạo nạn, trận nào cũng tắm máu những người yêu nước và thường dân vô tội: "Trong khoảng thời gian 12 năm, từ năm 1976 đến năm 1888, Pháp đã 7 lần xua quân đến làng tổ chức bắt bớ, đốt phá, tra tấn, đưa đi tù đày những tín đồ Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Bi thảm nhất là "đạo nạn" xảy ra vào năm 1887, Pháp tràn vào làng thiêu huỷ nhà cửa, chùa chiềng, đày đi Côn Đảo 13 người, xử bắn tại chỗ 8 người, cưỡng bức hơn 400 gia đình với gần 2.000 người đi khỏi làng…".
Núi Tượng - nơi ông Ba Lê chứng kiến vợ con cùng người thân bị quân Pôn Pốt tàn sát.
So với "đạo nạn" xảy ra vào năm 1978 do quân diệt chủng Pôn Pốt "thủ vai chính", "đạo nạn" năm 1887 kém  xa về mức độ thiệt hại, số người chết và đặc biệt là tội ác man rợ khiến cả nhân loại phải khiếp sợ, căm phẫn. Lại hướng mặt về phía ngôi mộ tập thể mà nhiều người quen gọi là Nhà mồ ngàn người (1.159 bộ hài cốt), ánh mắt ông Ba Lê nhòa đi khi chìm về một thuở quá vãng đau thương. Giọng ông lúc này chậm rãi, đau đớn. Ông nói rằng qua 1.000 năm bị giặc phương Bắc giày xéo và hơn 100 năm hết bị Pháp rồi Mỹ xâm lăng, sau năm 1975, khi kẻ thù bị quét sạch khỏi 2 miền Nam-Bắc, những tưởng từ đây người dân làng An Định đời đời được sống yên vui, ai ngờ thảm cảnh ập đến:
"Cuối tháng 2/1978, quân Khơmer đỏ do Pôn Pốt làm thủ lĩnh sau khi tấn công vào 8 tỉnh biên giới Tây Nam Việt Nam, trong đó có An Giang đã đánh vào Ba Chúc. Đến ngày 18/4 năm ấy, chúng tràn vào Ba Chúc. Trong 11 ngày đêm chiếm đóng (18/4 đến 30/4/1978), đội quân diệt chủng đã sát hại đến 3.157 người dân, trong đó có vợ và 5 đứa con của tôi" - ông Ba Lê, nhớ lại nỗi đau trong tiếng uất hận!
Đang sống bình yên, hạnh phúc bỗng dưng vợ con cùng hàng ngàn người thân, bà con chòm xóm bị sát hại một cách bạo tàn, dã man chẳng khác gì thời trung cổ như bị cắt cổ, bị quân khát máu dùng cuốc, búa, xẻng đập đầu hay dùng lưỡi lê xuyên thủng tim…, hỏi còn nỗi đau nào hơn, có nỗi kinh hoàng nào hơn?
Trong mùi hương trầm thoảng quyện đang sưởi ấm cho vong linh hàng ngàn con người chết thảm, ông Ba Lê tâm sự đến bây giờ, khi vùng đất Ba Chúc hồi sinh sau thảm họa diệt chủng, trong ông vẫn nhớ thương, vẫn còn mãi dáng hình, nụ cười, cả ánh mắt, gương mặt hãi hùng của vợ con trong quá trình bị quân diệt chủng lùng giết: "Làm sao có thể quên được tiếng thét kêu cứu của các con lúc trú ẩn trong hang đá bị kẻ thù phát hiện và ra tay sát hại" - ông Ba Lê, lại trĩu giọng.
Ở tuổi 70 nhưng ông Ba Lê hãy còn rất khoẻ, tráng kiện. Những thành viên trong Ban quản tự chùa Tam Bửu sẻ chia rằng dân Ba Chúc, từ người gia đến trẻ con, ai cũng biết ông, bởi ông là người quá nổi tiếng, bởi ông là thầy đờn tài hoa, có tài bốc thuốc nam chữa bệnh cứu người, có tiếng sáo gọi hồn thê thảm, có người nói rằng "sầu bi đến rợn người".


Một góc Nhà mồ tập thể.
Nỗi đau quá lớn không thể nói bằng lời, cũng chẳng thể chia sẻ với ai bởi những người còn sống sau trận thảm sát cũng hờn căm, phẫn uất, tan nát cõi lòng vì có người thân bị sát hại như mình, vậy là ông Ba Lê mượn tiếng sáo để tìm lại hình bóng vợ con cũng như ru ngủ những linh hồn xấu số! "Ngày 30/4/1978, quân diệt chủng Pôn Pốt bị bộ đội mình đẩy lùi. Ba Chúc được giải phóng và kể từ đó, nỗi đau của chú Ba Lê âm ỉ nhiều năm ròng. Đêm vắng lặng, tiếng sáo của chú Ba vang vọng nhuốm nỗi đau chất chồng. Tiếng sáo ai oán, não nề khiến nhiều người rơi nước mắt, thao thức mãi không thôi…" - ông Đức, chia sẻ!
Năm vợ con bị tàn sát, ông Ba Lê chỉ mới 37 tuổi và cũng sau khi đống tro tàn đổ nát cùng xương cốt của hơn 1.000 thường dân bị sát hại được đưa vào Nhà mồ tập thể, khi câu chuyện đau thương ở Ba Chúc trở thành tâm điểm chú ý của toàn nhân loại, tên ông Ba Lê được gắn liền với một hang đá trên đỉnh núi Tượng, hang Ba Lê. "Hồi quân Pôn Pốt tràn vào Ba Chúc tìm người bắn giết, bà con trong đó có vợ con tôi cùng người thân trốn trong các hang đá trên núi Tượng" - ký ức đau thương trong ông Ba Lê, lại hiện về: "Núi Tượng hiện có 15 hang đá ôm trong nó hàng trăm xác người bị quân diệt chủng sát hại man rợ".
Hang Ba Lê như những hang đá khác trên đỉnh núi Tượng lúc đầu chỉ là những hang đá vô danh, sau để tưởng nhớ những bị chết thảm trong các hang đá sâu cũng như để chia sẻ cho nỗi đau mất mát quá lớn của những người còn sống, người dân xã Ba Chúc đã lấy tên người đặt cho hang đá như hang Ba Lê, hang Tám Ất, hang Cây Da…
Ông Ba Lê nhớ lại ngày định mệnh, cái ngày mà ông đang có tất cả và mất tất cả, mất vợ con cùng những người thân yêu: "Sau 8 ngày ẩn sâu trong hang đá cùng vợ con, anh chị em, người cô họ và bà con thân thuộc, chúng tôi bị chó săn của quân Pôn Pốt đánh hơi phát hiện. Cuối giờ chiều hôm đó, sau tiếng chó sủa, đám lính mở hang rồi xả đạn như mưa khiến nhiều người trúng đạn đẫm máu, trong đó có con tôi…".
Sau 2 băng đạn AK liên hồi của quân diệt chủng, tưởng rằng chúng hết đạn và đang thay băng, không bỏ lỡ cơ hội, Ba Lê kể lại ông chớp thời cơ lách mình ra khỏi khe đá phóng ra khỏi miệng hang, ngờ đâu vừa ra ngoài thì đụng phải họng súng của 2 tên lính Pôn Pốt. Ở tình thế cái chết mười mươi ấy, Ba Lê liều mình lao xuống hẻm đá hẹp và may mắn thoát khỏi làn đạn của đội quân thủ ác. Giọng ông lúc này trĩu nặng nỗi đau: "Khi ấy tôi vẫn kịp nghe, kịp biết chúng thảy lựu đạn vào hang, nghe cả âm thanh gào thét chết trong đau đớn của vợ con, người thân của mình".
Như đã nói,  trong 11 ngày đêm chiếm đóng Ba Chúc, quân Pôn Pốt sau các màn đốt phá, bắn giết đã vơ vét, chiếm đoạt tài sản của những con người bị chúng hành quyết. Và những người thân của ông Ba Lê cũng không nằm ngoài qui luật máu lạnh giết-cướp ấy của chúng. Giọng ông Ba Lê chùn lại khi nhắc đến đoạn ông quay trở lại miệng hang tử thần và đổ sụp trước cảnh tượng người thân, trong đó có 5 đứa con bé bỏng của mình bị những kẻ khát máu lột đồ, cướp sạch tài sản, thịt xương vung vãi, máu đen đặc, xác chồng xác lạnh buốt… "Lúc ấy trên đỉnh núi còn rất nhiều người ẩn trú trong các hang đá cần được báo hung tin nên tôi không có nhiều thời gian để quyến luyến, bi sầu. Tôi ôm chặt vợ con, rồi xếp mọi người nằm ngay ngắn, lấp miệng hang cho tới hôm nay…".
Những người biết chuyện đau thương của Ba Lê mỗi khi ôn lại quá khứ kinh hoàng sau những sẻ chia về mất mát đều có cùng nhận định rằng số ông "mạng lớn", lớn bởi ông 2 lần đứng trước cái chết mười mươi nhưng thoát chết một cách lạ kỳ. Ba Lê kể rằng sau khi lấp miệng hang, ông báo hung tin cho mọi người rồi đưa khoảng 50 người thân cùng bà con trong xóm rời núi, theo đường tắt lối mòn về xã Lương Phi, nơi còn trong tầm kiểm soát của bộ đội. "Nhưng chẳng may trên đường đi, chúng tôi lọt vào ổ phục kích của quân Pôn Pốt và bị chúng bắn xối xả chết trên 30 người. Khi gặp nhau tại Lương Phi thì chỉ còn 10 người"...
Sau khi quân diệt chủng Pôn Pốt bị đẩy lùi, vì vợ con nằm dưới hang sâu nên ông Ba Lê không qui tập đưa xương cốt vào "mộ tập thể" mà xem hang đá năm nào là mộ phần của vợ con. Cũng từ đó, trong nhiều năm ròng rã, ông lấy tiếng sáo gọi hồn làm bạn đồng hành, sống ẩn dật giữa núi rừng núi Tượng với tâm niệm được gần và an ủi linh hồn vợ con.
Sau này được bạn bè, người thân an ủi, động viên, vết thương lòng trong Ba Lê dần ngậm miệng, ông quyết định sống tích cực để vong  linh vợ con và những người thân yêu của mình không đau lòng. Ông giã từ tiếng sáo, sửa lại ngôi nhà bị trúng pháo, mở phòng khám thuốc nam trị bệnh cho mọi người. Rồi ông lập gia đình, sinh con, tham gia Ban Quản lý di tích lịch sử Nhà mồ Ba Chúc…
Chia sẻ với chúng tôi, chủ nhân của tiếng sáo gọi hồn năm nào thổ lộ rằng sống cuộc sống mới, ông vẫn không thể quên vợ con ngày nào và chừng như để bù đắp thiệt thòi, nỗi đau ấy trong ông, vợ con sau này của ông rất trân trọng tình cảm thiêng liêng ấy
nguồn "CAND.com.vn
nggphong ST

Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tiếp đoàn đại biểu đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa

0 nhận xét
Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tiếp đoàn đại biểu đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa

22 tháng 1, 2012

0 nhận xét

Vì sao cúng Giao thừa?

Ngày cuối cùng của một năm là ngày 30/12 Âm lịch; giờ phút cuối cùng của một năm cũ qua đi và chuẩn bị đón năm mới đến được gọi là Giao thừa. Mỗi năm ông trời đều phân công một vị thần xuống cai quản mặt đất, thời khắc Giao thừa cũng chính là lúc vị thần cũ kết thúc nhiệm vụ của mình, bàn giao lại công việc cho vị thần mới. Những lúc ấy, mọi nhà bày mâm cỗ cúng Giao thừa để bày tỏ lòng biết ơn vị thần cai quản năm cũ đã trông coi cuộc sống của con người được bình yên, no ấm; và cũng để chào đón vị thần mới, cầu mong ông sẽ mang nhiều may mắn và hạnh phúc đến trong năm mới.
Vì thời gian các vị thần gặp nhau để bàn giao công việc không dài cho nên người lớn phải sắp đồ lễ cúng Giao thừa ở ngoài trời, để các vị thần có thể chứng giám lòng thành. Tục lệ cúng Giao thừa cũng là để con người cảm ơn trời, đất, chính vì thế mà đây là những giờ phút linh thiêng và quan trọng không thể thiếu.

Lì xì là gì?


Lì xì là khoản tiền nhỏ được người lớn chuẩn bị trong phong bao màu đỏ và cho trẻ con vào ngày đầu năm cùng những lời chúc chăm ngoan, mau lớn. Phong bao lì xì có ý nghĩa mang đến sự may mắn, thuận lợi cho trẻ em; bao lì xì đỏ tươi cũng chính là tấm lòng, sự yêu thương của người lớn trong gia đình dành cho con, cháu nhân dịp bắt đầu một năm mới.
Có câu chuyện cổ kể rằng ngày xưa ở Trung Quốc có một con yêu quái thường xuất hiện vào đêm Giao thừa, thích xoa đầu trẻ con và khiến đứa trẻ đau đầu, sốt cao, làm các bậc cha mẹ không dám ngủ để canh phòng. Có cặp vợ chồng lớn tuổi mới sinh được mụn con trai. Tết năm ấy, có 8 vị tiên dạo qua nhà, biết trước cậu bé này sẽ gặp tai họa với yêu quái liền hóa thành 8 đồng tiền đồng, ngày đêm túc trực bên bé.
Sau khi cậu bé ngủ say, hai vợ chồng lấy giấy đỏ gói những đồng tiền này lại, đặt lên gối con rồi đi ngủ. Nửa đêm, con yêu quái xuất hiện, vừa giơ tay định xoa đầu đứa trẻ thì từ bên chiếc gối loé lên những tia vàng sáng rực khiến nó kinh hoàng bỏ chạy. Tục mừng tiền lì xì ra đời từ đó và có ý nghĩa như một món lộc trừ tai hoạ, mang lại may mắn cho trẻ nhỏ.

Sao không được quét nhà trong mấy ngày Tết?

Theo tục lệ ngày xưa, vào những ngày đầu năm, người Việt kiêng không quét nhà vì cho rằng làm như thế chính là đuổi ông Thần Tài ra khỏi nhà. Ông Thần Tài là người mang đến may mắn về tiền bạc, tài chính cho gia đình, nếu ngày đầu năm đã đuổi ông đi thì cả năm gia đình sẽ gặp nhiều khó khăn, túng thiếu. Không ai muốn điều này cả, vì thế ngày 30 Tết dù có bận rộn đến đâu đi chăng nữa thì người Việt ta cũng cố gắng dọn dẹp, sửa sang lại nhà cửa cho gọn gàng, sạch sẽ để đón Tết.
Ngoài ra cũng có tục không cho lửa hay cho nước trong những ngày đầu năm. Lửa đỏ tượng trưng cho sự đầy đủ của cải trong nhà, nếu cho đi thì có nghĩa là cho luôn cả phần lộc của gia đình. Nước cũng được coi là biểu tượng cho sự thịnh vượng và nhiều tài lộc, đầu năm giữ cho nước bao giờ cũng có trong nhà, ngày trước thậm chí còn có tục trước năm mới phải gánh nước đổ đầy xô, thùng chứa để năm mới được may mắn, phát đạt nữa kia.

Đầu năm kiêng không mặc quần áo màu trắng, đen?

Nắng đầu năm luôn tươi và hoa lá mùa xuân nở đầy màu sắc; mùa xuân là mùa sinh sôi, mùa của mọi sự bắt đầu và mang đến nhiều niềm vui. Khi mùa xuân đến là người người lại nao nức chuẩn bị đón Tết, đi chơi xuân, và quần áo, trang phục chúng ta mặc cũng thể hiện niềm vui ấy. Áo quần mới nhiều màu tươi tắn, sặc sỡ sẽ mang theo niềm vui và hy vọng. Hai màu trắng và đen lại là những màu vốn được dân ta cho là màu của tang ma, buồn bã. Vì thế trong những ngày đầu năm mới, người ta thường kiêng mặc hai màu này, tránh mang đến điều không may hay nỗi buồn, sợ nó sẽ theo họ đến suốt một năm.

Thế nào là xông đất?

Người Việt quan niệm “đầu xuôi, đuôi lọt”, chính vì vậy mà vào ngày mùng 1 Tết, nếu mọi điều đều diễn ra suôn sẻ thì đó là dấu hiệu thật tốt cho một năm mới bắt đầu. Người khách đầu tiên đến chúc Tết cũng là người rất quan trọng; nếu người khách ấy có tính tình cởi mở, tốt bụng, vui vẻ mà tuổi lại hợp với chủ nhà thì đó là điều hết sức thuận lợi. Vì lẽ đó mà người Việt thường có thói quen xem tuổi, xem tính cách để mời một người khách xông đất nhà mình trong năm mới, với mong muốn gia đình sẽ được hưởng những điều tốt đẹp từ người khách ấy. Đó là lý do tại sao ba mẹ thường không cho con tự tiện đến nhà người khác vào sáng mùng 1 Tết khi chưa được gia đình người ta cho phép. Trong những ngày đầu tiên của năm mới, chúng ta nên tránh những điều không hay, không vui cho mình và cho cả người khác để mọi người đều có một năm thật thuận lợi.

Tại sao không được cãi nhau, khóc, buồn trong những ngày Tết?

Như đã nói, vì người Việt quan niệm khởi đầu một năm mới với nhiều niềm vui, mọi việc suôn sẻ là điều tốt, nên những điều ngược lại như xung đột, xích mích hay sự buồn khổ đều không tốt. Thường trước Tết, những người đang có xích mích hoặc giận hờn thường gặp mặt, nói chuyện với mong muốn hòa giải để ai cũng thoải mái, vui vẻ trong những ngày đầu năm.

Vào những ngày đầu năm lại càng không nên cãi nhau hay giận hờn, nếu con và bạn có gì chưa bằng lòng về nhau, hãy cùng nói ra để làm hòa để những ngày Tết của cả hai được vui vẻ, con và bạn cũng sẽ gặp nhiều may mắn. Dặn con đừng tranh giành hay trêu chọc em nhỏ, bạn bè dịp năm mới, những việc làm ấy là không hay và nó không mang lại may mắn cho con. Biết nhường nhịn để mọi người đều vui vẻ là hành động đáng khen và chắc chắn năm mới của con sẽ gặp nhiều điều tốt đẹp vì con đã rất ngoan.
Ngoài ra, ngày đầu năm mọi người còn kiêng làm rơi vỡ đồ đạc cũng với ý nghĩa mong những điều tốt đẹp, thuận lợi cho năm mới. Vì thế, bạn hãy dặn con không được chơi đùa khi mẹ, bà đang làm thức ăn, phải cẩn thận khi cầm hay mang món đồ dễ vỡ giữ may mắn cho cả gia đình. Khi đến chơi Tết nhà người khác cũng vậy, con càng phải cẩn thận để tránh mang đến điều không tốt cho gia đình người khác, làm được như thế thì cả năm con sẽ được nhiều người yêu thương.
Nhân dịp Xuân về, web:tuanhieunghia.tk thân chúc thân bằng,, đồng đạo gần xa và cả gia đình, nhất là các bạn trẻ, một năm mới tràn đầy những điều may mắn, vạn sự cát tường!




18 tháng 10, 2011

Doanh nhân Ngô Lợi với vùng đất An Giang

0 nhận xét

Khẳng định công lao khẩn hoang vùng đất An Giang vào cuối thế kỷ XIX của Danh nhân Ngô Lợi

EmailIn

Ngày 30/9 vừa qua, tại thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, hơn 50 nhà khoa học, nhà nghiên cứu của các viện, trường từ các tỉnh, thành phía Nam như Quảng Ngãi, Bà Rịa - Vũng Tàu, Tiền Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang, An Giang, Cần Thơ, Sóc Trăng và thành phố Hồ Chí Minh đã tham dự Hội thảo khoa học: "Khẳng định công lao khẩn hoang khai phá vùng đất An Giang vào cuối thế kỷ XIX của Danh nhân Ngô Lợi''.


Chùa Tam Bửu
Tại cuộc hội thảo, có 71 báo cáo tham luận của 76 tác giả và đồng tác giả đã làm rõ, khẳng định về thân thế sự nghiệp, những đóng góp của danh nhân Ngô Lợi trong việc khẩn hoang lập làng ổn định dân cư của vùng đất phía Nam, đặc biệt là An Giang, biên giới Tây Nam của Tổ quốc vào cuối thế kỷ thứ XIX. Hội thảo cũng đã nghe báo cáo tham luận của nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu về Ngô Lợi. Ông tên thật là Ngô Viện, được người dân tôn kính gọi tên Đức Bổn sư Ngô Tự Lợi hay Năm Thiếp, sinh năm 1830 tại huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Sinh ra trong thời kỳ xóa bỏ phong kiến chuyển sang thực dân thuộc địa vơ vét, bóc lột, đẩy cuộc sống nhân dân vào cảnh lầm than khốn khó, ông đã sớm ý thức tham gia kháng Pháp. Là sỹ phu Cần Vương, tham gia khởi nghĩa ở vùng Mỹ Tho - Tiền Giang, bị giặc truy nã, ông chạy về vùng cù lao Ba thuộc huyện An Phú (An Giang) ẩn thân. Ngô Tự Lợi là người có tâm đạo từ rất sớm, có định hướng tôn giáo và tu hành ngay từ tuổi 20. Ông đã đứng ra thành lập đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa tại thị trấn Ba Chúc, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang. Đến ngày rằm tháng 9 (âm lịch) năm 1870, ông được phong danh là Đức Bổn Sư, sau đó dẫn tín đồ vào vùng Thất Sơn - Núi Tượng khẩn hoang, lập thôn An định. Tại đây, ông cùng các tín đồ lập nghiệp, đẩy mạnh truyền đạo kết hợp với điều trị bệnh cho nhân dân và từ đây ông bắt đầu chiêu mộ sĩ phu chống Pháp , thu nhận thêm nhiều tín đồ là những nông dân mất ruộng, nghĩa quân thất trận … đẩy mạnh phong trào ngày càng lớn mạnh, khiến quân Pháp phải nể phục.
Các ý kiến còn khẳng định công lao của ông qua 7 năm đã khai hoang hơn 12.000 ha để lập nên 4 thôn An Hòa, An Thành, An Lập, An Định và xây 7 chùa ở nhiều nơi để nhân dân thu thân, thờ cúng ông bà. Ông còn là người thông minh, tài, đức vẹn toàn; giàu lòng yêu nước thương dân; có công to lớn đối với đất nước bằng những hoạt động đa dạng như khẩn hoang lập ấp để an dân; biết tận dụng vùng rừng núi, biên giới kết hợp kháng Pháp; khai sáng Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Đây là tôn giáo nội sinh đặc thù của vùng 7 Núi An Giang được hình thành và phát triển gắn liền với quá trình di dân, khai hoang lập làng, xây dựng căn cứ kháng chiến, hoạt động theo đúng tôn chỉ mục đích “Học Phật tu thân”, “Tứ đại trọng ân”, “Hòa hợp đoàn kết dân tộc”, với quan niệm tu hành phải hòa nhập vào cuộc sống cộng đồng, tự rèn tâm sửa tính, làm lành lánh dữ, lấy chữ tín và ân đất nước làm trọng.
PGS.TS Trần Hồng Liên - Viện Khoa học xã hội vùng Nam bộ cho rằng, Ngô Lợi tập hợp nghĩa quân kháng Pháp lại đứng trong tổ chức Tôn giáo. Để thu hút được lực lượng kháng chiến, ông đã biết dựa vào phong tục, tín ngưỡng của dân tộc và lễ nghi trong Phật giáo, đây là nét đặc thù riêng của lịch sử vùng đất phía Nam của Tổ quốc, rất xứng đáng được tôn vinh là Đức Bổn sư./.

1 tháng 10, 2011

Trang web: Tứ Ân Hiếu Nghĩa - Kỳ Hương Tự - Tiền Giang

0 nhận xét
Đầu tiên xin gửi dến tất cả thân bằng đồng đạo cùng chư huynh đệ đạo bạn đã ủng hộ trang blog nhà "Tứ Ân Hiếu Nghĩa:. Nay chúng tôi xin thông báo:
 Dự Kiến trong thời gian tới, chúng tôi sẽ chuyển toàn bộ dữ liêu từ trang này về  trang : Tứ Ân Hiếu Nghĩa - Kỳ Hương Tự
hoặc có thể vào trực tiếp link này: hieunghia.tk
Mong các thân bằng đồng đạo cũng như các chư huynh đệ đạo bạn gần xa tiếp tục ủng hộ.
                                                                                    -=Cẩn khải=-