TỔ ĐÌNH TAM BỬU TỰ Ba Chúc - An giang
♠♠๑۩۞۩๑ -KỲ HƯƠNG TỰ- ๑۩۞۩๑♠♠
Trang này được thực hiện bởi các đồng đạo TỨ ÂN HIẾU NGHĨA - TIỀN GIANG

4 tháng 3, 2010

0 nhận xét


BỬU SƠN KỲ HƯƠNG

v v v









Bửu Ngọc Quân Minh Thiên Việt Nguyên

Sơn Trung Sứ Mạng Đạo Nam Tiền
Kỳ Niên Trạng Tái Tân Phục Quốc
Hương Xuất Trình Sinh Tạo Nghiệp Yên


 Tác giả Vương Kim 
Nhà xuất bản Long Hoa - Sài Gòn 1966
 
NỘI DUNG
* * *

1 tháng 3, 2010

CHÚ KHAI QUANG - ĐIỂM NHÃN

0 nhận xét
CHÚ KHAI QUANG - ĐIỂM NHÃN .
Lấy một thau nước sạch –Lấy bông xé bỏ vào và xịt thêm dầu thơm.
Nhúng ông Địa hay Thần Tài vào tắm.Sau đó lấy dẻ lau khô rồi để trên Đạo tràng.
Cúng nhang, nến, nước lạnh cho Phật hay rươụ, thịt cho Thần
.



ĐỒ THƠ CỦA PHẬT BỔN SƯ

0 nhận xét

ĐỒ THƠ CỦA PHẬT BỔN SƯ






  1. Điểm thứ nhất : Kể từ đầu Rồng thạch động là nơi đầu Rồng nơi trước tam tinh ở trong hang thửa xưa có hai lổ hỏng cách nhau chừng 12 thước có dư, đó là hai lỗ mũi Rồng ăn thấu tới núi Ông Cấm và theo núi Dài
  2. Điểm thứ hai : Hòn đá Dựng gọi là Châu Nhan là trái châu Rồng.
  3. Điểm thứ ba : Núi Tô Châu là sừng Rồng bên mặt.
  4. Điểm thứ tư : Hòn núi Bình Sơn tục gọi là núi Trà Lăng là sừng bên trái.
  5. Điểm thứ năm : Châu bên mặt của Rồng là núi Điện – Bà Tây Ninh.
  6. Điểm thứ sáu : Châu bên trái là hòn Phú Quốc.
  7. Điểm thứ bảy : Tại mình Rồng là nơi Ông Cấm, thân Rồng là Hồ Sơn, chính giữa thân Rồng ăn thấu vô ruột từ lâu đó là  địa huyệt ngày xưa.
  8. Điểm thứ tám : Cập theo đuôi Rồng là núi Dài. Hiện núi Dài là Ngọa Long sơn, trong núi Dài có khe ô Tam Cấp, đó là lỗ tiểu của Rồng, giữa núi có bãi ngã, sau dời qua núi Tây, đủ nước hào xã ô độc dơ dáy mà tràn ra lai láng.
Ngày sau này, vì đã dời núi, trịnh khỏi núi chân Chân Long nên mới phúng ra như thế.
  9. Điểm thứ chín :  Chân Rồng phía bên trái là núi Cô Tô tức núi Ông Tô.
10. Điểm thứ mười : chân sau bên trái là núi Tượng, hiện núi là Kỳ Hương sơn. Sau này có đại hội, bởi vì Rồng đưa chân rước Phật Tiên xuống thế mà lập hội để che chở phía Tây Nam cho vì sao Tử Vi – Tinh Am, áp xong rồi phía núi tượng mới sụp; đó là xuất chân long bụng Rồng.


LINH SƠN HỘI THƯỢNG KINH

4 nhận xét

LINH SƠN HỘI THƯỢNG KINH
Đức Bổn Sư
đăng ngày 20/01/2007





NAM MÔ BỔN SƯ
THÍCH CA MÂU NI PHẬT


(niệm 3 lần)



MỘT SỐ SỚ KHẤN TẾT

0 nhận xét

MỘT SỐ SỚ KHẤN TẾT
đăng ngày 14/02/2007

  1. SỚ KHẤN ÔNG TÁO NGÀY 23 THÁNG CHẠP 
  2. SỚ KHẤN TẤT NIÊN
  3. SỚ KHẤN GIAO THỪA NGOÀI TRỜI .
  4. SỚ KHẤN GIAO THỪA TRONG NHÀ .
  5. SỚ KHẤN THẦN LINH TRONG NHÀ TẾT NGUYÊN ĐÁN
  6. SỚ KHẤN TỔ TIÊN NGÀY MÙNG MỘT TẾT .
  7. LỄ HÓA VÀNG NGÀY MÙNG 3 TẾT .


---------------------------------------------------------------------

Ngôi Long Ðình của phái Tứ Ân Hiếu Nghĩa

0 nhận xét




Ngôi Long Ðình của phái Tứ Ân Hiếu Nghĩa
Phước Đồng sưu khảo
đăng ngày 20/10/2007

Năm Kỷ Mão (1879), Đức Bổn Sư bảo đệ tử lên núi Dài đem cây cam đàn (một loại cây gỗ quý hiếm) về cưa ra, chọn người giỏi trong hàng thợ khéo của tín đồ của Bổn Sư đóng thành ngôi Long Đình (Long vị) do ngài vẽ kiểu và cho thước tấc.
Đóng xong, ngài cho khiêng vào để giữa chùa Tam Bửu. Trên đó còn có cặp gối mặt thụt (loại gối xưa), một cặp thước “Lỗ Ban Xích” và bản tiền, bản phái. Trong hàng Bá gia tưởng rằng ngài sẽ dùng để tham thiền nhập định. Không ngờ ngài rất tôn kính như dùng để thờ một đấng bề trên đang vắng mặt.
Bá gia (Đức Bổn Sư gọi tín đồ) khắp nơi về đây quy y thọ phái quá đông. Trong số nầy rất nhiều dư đảng Cần Vương kháng Pháp. Từ đó, giặc Pháp theo dõi, bắt bớ đày ải khủng bố đốt chùa - miễu nhiều lần. Nặng nhất là lần pháp nạn năm Ất Dậu (1885). Do Đốc Phủ Trần Bá Lộc hướng dẫn giặc Pháp và thân binh vào đây đốt nhà cửa, tàn sát những người mến đạo và yêu nước. Phá hoại hầu hết cơ sở tín ngưỡng, chở đem đi tất cả những gì người đạo quý trọng trong đó có ngôi Long Đình.


TRANG PHỤC CỦA TÍN ĐỒ TỨ ÂN HIẾU NGHĨA

0 nhận xét
TRANG PHỤC CỦA TÍN ĐỒ TỨ ÂN HIẾU NGHĨA.
Đinh Văn Hạnh

Nghi thức học trò lễ trong ngày Vía trang nghiêm
Trang phục của người theo đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa là trang phục cổ truyền của người Việt Nam bộ cuối thế kỷ XIX được duy trì đến tận ngày nay. Vì thế, nét riêng của trang phục Tứ Ân Hiếu Nghĩa chỉ có ý nghĩa, gây chú ý từ đầu thế kỷ XX, nhất là sau phong trào Duy Tân (1906 - 1907) và các quá trình chuyển tiếp trong "cái mặc" của thời đại mà thôi...