TỔ ĐÌNH TAM BỬU TỰ Ba Chúc - An giang
♠♠๑۩۞۩๑ -KỲ HƯƠNG TỰ- ๑۩۞۩๑♠♠
Trang này được thực hiện bởi các đồng đạo TỨ ÂN HIẾU NGHĨA - TIỀN GIANG

Ngày 01 tháng 03 năm 2010

Đức Phật Trùm



Bàn thờ Phật Trùm tại nhà ở của ông khi xưa, nay thuộc ấp Sà lon, xã Lương Phi


Phật Trùm (? - 1875) tên thật: Tà – pênh, người Việt gốc Khmer, ở ấp Sàlon, xã Lương Phi, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang. Ông được tín đồ các giáo phái Bửu Sơn Kỳ HươngTứ Ân Hiếu NghĩaPhật giáo Hòa Hảo gọi tôn là Phật Trùm.[1] .






Đời thực lẫn huyền thoại

Phật Trùm, từ nhỏ đến lớn, sống như một người bình thường. Khi trưởng thành, ông cưới vợ và có được bốn cô con gái. Là người Việt gốc Khmer ít học, nói tiếng Việt không thạo; vậy mà vào năm 1866, sau những ngày lâm bệnh nặng đến hôn mê, ông bỗng dưng tỉnh táo và khỏe lại, tự nhận mình là hậu thân của Phật Thầy Tây An tức Đoàn Minh Huyên, là hồn Trùm của Phật (nên được tín đồ gọi tôn là Phật Trùm), theo như mấy câu sám giảng của ông còn lưu truyền:
Ở đời hạ giới yêu ma,
Phật cho Thầy xuống để mà giảng dân.
Tuy là phần xác của Miên,
Hồn Trùm của Phật xuống lên dạy đời.
Từ đấy, Phật Trùm bắt đầu giảng giáo lý toàn bằng tiếng Việt. Bà Néang-Suông xưng là cháu chắt Phật Trùm cho biết ông có để lại một cuốn kinh bằng tiếng Việt, nhưng Tà-Sao là cháu của Phật Trùm đã đem nạp cho Pháp, bởi vậy chỉ có thể biết được một phần nội dung:
Nhà Phật Trùm sinh sống khi xưa tại ấp Sàlon, nay trở thành nơi thờ cúng ông.
Thương đời ta phải bị đày,
Phật môn vạn pháp không ngoài cái Tâm.
Hạ ngươn sanh chúng lạc lầm,
Nên đem diệu lý âm thầm độ sinh.
Tu Nhân, Học Phật khá gìn,
Long Hoa đến hội, Phật tiên đến gần...[2]
Và cũng tương tự lối hành đạo của Đoàn Minh Huyên, Phật Trùm cho phân phát “lòng phái”[3], trổ tài trị bệnh thật lạ thường. Người ta kể rằng Phật Trùm thường dùng đèn sáp đốt lên, bảo bịnh nhơn ngửi hơi khói mà hết bịnh, nên ông còn được gọi là Đạo Đèn.
Cái tên ấy, đã được nhắc đến trong sám giảng của ông:
Lâm san nghe tiếng Đạo Đèn,
Gần xa thiên hạ ngợi khen vô cùng.
Kẻ thời đến lãnh giấy thông,
Người thời đến lãnh phù ông đem về...
Mộ Phật Trùm trên lưng chừng núi Sàlon, ấp Sàlon, xã Lương Phi.
Khoảng năm 1870, lúc này tín đồ người Việt theo ông đã khá đông. Thấy vậy, một số người Việt gốc Khmer trong xóm vu cáo là ông mượn chuyện đạo, chuyện trị bệnh để quy tụ, để cổ xúy nhân dân nổi loạn, nên nhà cầm quyền Pháp cho bắt giam ông rồi kết án tù đày.[4]
Trong tù, ông chăn heo. Sau vài năm, Pháp thấy ông hiền lành, không có biểu hiện gì chống đối, nên ông được trả tự do. Về lại quê nhà, Phật Trùm tiếp tục hành đạo, có khi rao giảng đạo sang tận bên nước Campuchia.
Ngày 13 tháng 3 âm lịch năm Ất Hợi (1875), Phật Trùm viên tịch.
Hiện mộ Phật Trùm nằm lưng chừng núi Sàlon.[5], một núi nhỏ, thấp thuộc ấp Sàlon, xã Lương Phi, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang. Mộ không đấp nấm, theo chủ trương của giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương.




Chú thích

  1. ^ Tín đồ theo đạo Bửu Sơn Kỳ HươngTứ Ân Hiếu NghĩaPhật giáo Hòa Hảo đều tin sau khi Đoàn Minh Huyên tức Phật Thầy Tây An mất, ông chuyển kiếp thêm bốn đời nữa để giáo hóa chúng sinh, đó là Phật TrùmNgô LợiSư Vãi Bán Khoai và Huỳnh Phú Sổ.
  2. ^ Theo web Bửu Sơn Kỳ Hương [1]
  3. ^ Lòng phái là một miếng giấy vàng, có khi giấy bạch, trên đó có in bốn chữ Bửu Sơn Kỳ Hương bằng son tàu. Người nhận lãnh tin tưởng là nhờ Lòng phái sẽ được mạnh khoẻ, tránh được tà ma, tai nạn, nên họ giữ gìn cẩn thận và luôn mang theo bên mình.
  4. ^ Để tìm hiểu thêm, vào ngày 17 tháng 4 năm 2008, nhân dịp lễ giỗ của Phật Trùm, người soạn có đi đến ấp Sàlon, thì thấy ngoại trừ đôi ba người Việt gốc Khmer trong dòng tộc Phật Trùm; số đông cả ngàn người chỉ toàn là tín đồ người Việt của những giáo phái Bửu Sơn kỳ HươngTứ Ân Hiếu NghĩaPhật giáo Hòa Hảo; người Việt gốc Khmer trong xóm vì không tin theo ông, vì khác tín ngưỡng, nên không hề đến tham dự lễ giỗ.
  5. ^ Có một số web ghi nhầm tên núi Sàlon là Tà Lơn, có thể vì âm đọc hơi giống nhau (núi Tà Lơn thuộc nước Campuchia).






Đức Phật Trùm (1868-1875)
Nguyễn văn Hiệp (Sacramento, CA)
đăng ngày 04/03/2008

      Mười hai năm sau ngày Đức Phật Thầy tịch diệt, Đức Phật Trùm ra đời. Ngài tên thật là gì và sanh năm nào, chưa ai biết (có Tài liệu ghi Ngài tên là Ta-Poul hay Paul ?). Chỉ biết Ngài là người Cao Miên có vợ và bốn người con gái. Quê của Ngài ở sóc Lương Phi, núi Tà Lơn (nằm trong vùng Thất sơn, gần kinh Tám Ngàn) thuộc quận Tịnh Biên, tỉnh Châu Đốc. Năm Mậu Thìn (1868), quanh vùng Tà Lơn xảy ra bịnh ôn dịch khiến cho người ta chết vô số kể, Ngài cũng mắc phải bịnh nầy mà chết vào ban đêm nhưng có điều lạ lùng là sáng hôm sau khi người nhà định đem đi hỏa táng thì Ngài bỗng nhiên sống lại. Điều lạ kỳ nữa là khi sống lại, Ngài không còn nói được tiếng Miên mà chỉ nói ròng tiếng Việt. Sau đó, Ngài bắt đầu nói giọng nửa hư nửa thực, có người nghi ngờ hỏi thì Ngài trả lời :
-“Tuy là phần xác của Miên,Hồn Trùm của Phật xuống lên dạy đời.”

Và “Hồn Trùm” ấy không ai khác hơn là Đức Phật Thầy như lời Ngài thố lộ :
      “Ở đời hạ giái yêu ma,      Phật cho Thầy xuống giáo mà chúng sanh.”
      Rõ ràng, Ngài cho biết :“Trùm của Phật sai xuống dạy đời”. Vì vậy, người đời gọi Ngài là Phật Trùm. Chẳng những để dạy đời mà Ngài còn ra tay cứu độ chúng sanh bằng phương pháp huyền diệu. Khởi đầu là cứu khỏi những người đang mắc bịnh ôn dịch quanh vùng, sau đó, người ta đem đến bịnh gì Ngài cũng trị được hết. Đặc biệt, khi trị bịnh, Ngài hay dùng đèn sáp đốt lên rồi bắt bịnh nhơn ngữi hơi khói mà hết bịnh, nên Ngài còn được gọi là ông Đạo Đèn. Song song với việc chữa bịnh, Ngài bắt đầu dạy đạo, thu nhận đệ tử, phát lòng phái nên tín đồ BSKH tin rằng Đức Phật Trùm là người kế thừa Đức Phật Thầy để tiếp nối hoằng dương chánh pháp, do đó, từ khắp nơi họ ào ạt kéo về lễ bái, xin trị bịnh và qui y ngày càng đông đảo. Ngài có làm bài KỆ sau đây :
      Hạ ngươn mạt pháp khổ trời Nam,      Thừa lịnh Phật Tôn xuống cõi phàm.      HỌC PHẬT TU NHÂN noi diệu pháp,      Long Hoa ký hội độ hiền nhân.
      Hai năm sau đó, vì thấy Ngài được nhiều người tín ngưỡng nên có một số người Cao Miên ở Xà-Tón sanh lòng ganh ghét nên đến báo cáo với quân Pháp ở Châu Đốc rằng Ngài đang chiêu mộ binh sĩ có ý khởi nghĩa Cần Vương, mưu cuộc dấy binh chống Pháp. Thế là, Ngài bị quân Pháp bắt về Châu Đốc và giam giữ.
      Theo lời của ông Nguyễn Phước Còn (còn gọi là ông Bảy Còn) ở tổng Định Hòa, (Long Xuyên) thì mặc dầu Ngài đang bị giặc Pháp giam cầm trong ngục thất nhưng người ta vẫn thấy Ngài thong thả dạo chơi ở ngoài phố chợ. Sau đó, bọn Pháp còn đem Ngài bỏ vào cũi sắt rồi liệng xuống sông nhưng Ngài vẫn không bị chết ngộp hay bắt Ngài ngồi trong đụn dầu sôi nhưng Ngài vẫn không bị chết phỏng. Cuối cùng, thực dân Pháp đem Ngài đày ra hải ngoại nhưng không ai biết là ở nơi nào (Côn Đảo hay đảo Réunion ? không tài liệu nào ghi rõ).
      Trước khi bị đày, Ngài có để lại một bài Sấm giảng nhưng bị thất lạc, chỉ còn lại mấy câu (do gia đình một tín đồ BSKH truyền miệng) như sau :
      …“Thương đời ta phải bị đày,      Phật môn vạn pháp không ngoài cái Tâm.      Hạ ngươn sanh chúng lạc lầm,      Nên đem diệu lý âm thầm độ sinh.      Tu Nhân Học Phật khá gìn,      Long Hoa đến hội Phật tiên đến gần…”
      Sau một thời gian an trí, nhà chức trách Pháp thấy Ngài hiền lành, không có gì là nguy hiểm nên tha Ngài về xứ. (Có nhơn chứng tên là Quăng quê ở Long Kiến, tỉnh Long Xuyên kể lại rằng Ngài bị giam chung với tội nhơn thường phạm và lãnh phần chăn hai con heo, nơi đây, Ngài cũng bị bọn cai ngục cho uống nước cường toan (eau régale) là chất độc nhưng Ngài vẫn không chết lại mạnh khoẻ như thường.). Khi về đến Châu Đốc, Ngài được nhà cầm quyền Pháp cấp cho một cây súng hai lòng để đi săn bắn nhưng buộc Ngài phải trình diện họ mỗi tuần một lần vào sáng thứ Hai. Sau đó, Ngài trở về núi Tà-Lơn tiếp tục cứu nhơn độ thế và nhắc nhở người đời lo việc tu hành. Ngài tịch diệt ngày 21 tháng Mười một năm Ất Hợi (1875) sau bảy năm ra đời hoằng khai chánh pháp và cứu độ sanh linh.
      Trước khi tịch diệt, Ngài có cho vợ con và tín đồ biết trước rằng Ngài sẽ về cõi Phật, rồi bỏ nhà đi lên núi. Nhà cầm quyền Pháp thấy đã quá mấy ngày mà Ngài không đến trình diện nên cho người tìm bắt. Sau khi nghe nói Ngài đã tịch rồi, bọn chúng không tin nên bắt vợ con của Ngài giải về Châu Đốc, buộc Ngài phải lộ diện thì họ mới thả vợ con ra. Cuối cùng, Ngài phải trở về nhà, bảo tín đồ đóng cho một cái hòm rồi tự mình trải vào đó một cái khăn rộng và vào nằm trong đó. Sau đó, sai người đậy nắp lại cẩn thận rồi đi báo cho Pháp hay. Bọn Pháp sau khi đã khám nghiệm đủ cách, biết chắc Ngài không còn sống nên hạ lịnh đem chôn trước sự chứng kiến của họ. Tuy nhiên, một thời gian sau đó người ta vẫn thấy Ngài lảng vảng trong vùng Thất sơn.
      Ngài còn truyền lại một bổn “Sấm Giảng” khuyên người đời tu niệm và tiên đoán việc thiên cơ, trong đó có đoạn như sau :
      “Việc đời nghe cũng gần đây,      Nghe lời Thầy dạy vậy thời ở yên.      Rày kinh nay đã đóng biên,      Hai năm Tuất Hợi gần miền Phật ra.      Tử dân vô số Hằng hà,      Độc trùng ác thú đều ra hại người.      Phần thời giặc đánh tới nơi,      Phần thời giặc Trời ra hại người ta.      Chư hầu dấy động can qua,      Đến chừng thấy Phật thì còn bâu* không.      Loạn trong thập bát chư hầu,      Âm thinh ba tiếng đâu đâu cũng tàng.”
      (Viết theo quyển “Thất sơn Mầu nhiệm” của Dật Sĩ & Nguyễn văn Hầu)
            Nguyễn văn Hiệp (Sacramento, CA.)



 
      *Chú thích :

      1/- Ngoài việc phát đèn sáp cho bịnh nhơn, Đức Phật Trùm còn phát cảbâu áo. Hễ ai là đệ tử thì được phát cho hai khuy hai nút, còn người thường thì phát cho một khuy một nút. Bâu áo nầy được bọc vải bên ngoài còn bên trong thì lót lá cây mần-dè, ngụ ý là không dè mà gặp Phật.
      2/- Bà Néang-Suông xưng là cháu chắt Đức Phật Trùm cho biết : Ngày Đức Phật Trùm tịch là 21 tháng 11 năm Ất Hợi (1875), mồ mả còn tại núi Tà-lơn, Ngài còn để lại một cuốn Kinh bằng tiếng Việt nhưng tên Tà-Sao là cháu của Ngài vì ham lợi đã đem nạp cho bọn Pháp. (Theo quyển “Nửa tháng trong miền Thất sơn” của Nguyễn văn Hầu).
Link: http://bskh.net/noidung_detail.php?newsid=81

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Nhận xét của bạn đang được chúng tôi duyệt qua, và chúng tôi sẽ đăng lên trong thời gian sớm nhất! Chào Thân ái!